- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lò Văn C - MBTPCMT - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2023/HS-ST Ngày 31-5-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh;
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Thức.
2. Bà Nguyễn Thị Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn C, tên gọi khác: Không, sinh năm 1995 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản P, xã T, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn N – sinh năm: 1957 và con bà: Lường Thị H - sinh năm 1959; vợ: Tào Me L – sinh năm 1997; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 27/12/2022, đến ngày 05/01/2023 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Tân Uyên đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1. Anh Lù Văn T, sinh năm 2004 (vắng mặt).
2. Anh Lù Văn Q, sinh năm 2004 (vắng mặt).
Đều trú tại: bản C, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu.
3. Anh Lò Văn L, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Trú tại: bản P, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Lụa, Luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ, ngày 25/12/2022, Lò Văn C đón xe khách đi từ nhà xuống huyện Than Uyên mục đích tìm mua Heroin để bán kiếm lời. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, C xuống xe tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên. Tại đây, C gặp và nhờ một người đàn ông dân tộc Mông, không rõ nhân thân lai lịch mua hộ được 01 gói Heroin bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được Heroin C trích lấy một ít sử dụng hết, phần còn lại C gói lại như ban đầu rồi cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc và ra đường quốc lộ đón xe khách đi về nhà. Đến khoảng 06 giờ ngày 27/12/2022, C lấy gói Heroin mua được từ ngày 25/12/2022 ra chia thành 06 gói nhỏ trong đó có 05 gói mỗi gói được gói bằng mảnh nilon màu hồng và 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh. Chia Heroin xong, C cất vào túi quần đùi bên trái đang mặc 04 gói gồm 03 gói mỗi gói được gói bằng mảnh nilon màu hồng và 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh, cả 04 gói được gói chung bằng một mảnh nilon màu hồng bên ngoài, còn 02 gói mỗi gói được gói bằng mảnh nilon màu hồng C cất vào túi áo khoác đang mặc.
Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày 27/12/2022, khi C đang ở gần nhà thì có Lù Văn Q và Lù Văn T cùng đến tìm mua Heroin để sử dụng. Khi gặp C, Q hỏi mua Heroin trước, C đồng ý rồi Q đưa cho C 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng của Q để mua Heroin, lúc này T đứng bên cạnh cũng lấy ra 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng của T đưa cho C để mua Heroin. Sau khi nhận tiền của Q và T, C lấy từ túi áo khoác bên trái ra 02 gói Heroin mỗi gói được gói bằng mảnh nilon màu hồng đưa cho T rồi T đưa cho Q 01 gói. Đến 11 giờ 05 phút cùng ngày, T và Q vừa cùng nhau sử dụng hết số Heroin vừa mua được của C tại bụi tre ven đường ở bản Phiêng Phát, xã Trung Đồng thì bị Công an huyện Tân Uyên phát hiện, bắt giữ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ của Q và T mỗi người một mảnh nilon màu hồng và một mảnh giấy bạc màu trắng bị cháy dở. Tại chỗ Q và T cùng khai nhận số Heroin vừa sử dụng hết là do T và Q mua của Lò Văn C. Cùng ngày, Công an huyện Tân Uyên đến nhà C để thi hành lệnh giữ người trong trường trường hợp khẩn cấp và khám xét. Lúc này tại nhà C có Lò Văn L vừa đến hỏi mua Heroin của C để sử dụng nhưng chưa kịp mua, bán thì thấy lực lượng công an đi đến nên L và C bỏ chạy ra khỏi nhà. Sau đó L đã chạy thoát còn C chạy ra đến khu ruộng cạn cách nhà 10 mét thì C đã ném túi nilon màu hồng ở túi quần bên trái, trong đó có chứa 04 gói Heroin xuống ruộng nhưng bị công an phát hiện. Khi C chạy thêm được khoảng 100 mét thì bị Công an bắt giữ được rồi dẫn C quay lại vị trí đã ném Heroin xuống ruộng. Tại hiện trường C thừa nhận gói Heroin vừa ném trên mặt ruộng là của C, ngay sau đó công an huyện Tân Uyên phối hợp tổ chức khám nghiệm hiện trường, thu giữ tổng số 04 gói Heroin trong đó có 03 gói mỗi gói được gói bằng mảnh nilon màu hồng và 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu xanh, cả bốn gói được gói chung bằng một mảnh nilon màu hồng bên ngoài có tổng khối lượng là 0,3 gam, mục đích của C để bán và thu giữ trên người của C số tiền 300.000 đồng trong đó có 200.000 đồng là tiền do C bán Heroin cho Q và T mà có và 100.000 đồng là tiền riêng của C.
Ngày 27/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã tiến hành thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu vật giám định và niêm phong vật chứng. Tại kết luận giám định số 04/KL-TCGĐ ngày 27/12/2022 của người giám định tư pháp, kết luận vật chứng nghi là chất ma túy thu giữ của Lò Văn C có khối lượng là 0,3 gam.
Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tân Uyên đã trích 0,22 gam trong tổng số 0,3 gam chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lò Văn C, theo C khai nhận là Heroin gửi giám định. Tại kết luận giám định số 54/KL-KTHS ngày 31/12/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 04 (bốn) Mẫu chất bột màu trắng (Ký kiệu Mẫu 1 đến Mẫu 4) gửi giám định đều là ma túy, loại: Heroin.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã tiến hành trưng cầu giám định số tiền 300.000 đồng thu giữ của Lò Văn C. Tại bản kết luận giám định số 56/KL-KTHS ngày 31/12/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 03 (ba) tờ tiền Polymer mệnh giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng) có các số seri QJ13521515, SD17510614, QI19058885 gửi giám định là tiền thật.
Bản Cáo trạng số 33/CT -VKS - TU, ngày 16/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử Lò Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn C từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, miễn án phí và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 0,08 gam Heroin; 06 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh nilon màu xanh; 02 mảnh giấy bạc màu trắng, trả lại cho bị cáo C số tiền 100.000 đồng.
Người bào chữa sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo Lò Văn C, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì. Bị cáo C đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa và không bổ sung gì thêm.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 25/12/2022, tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, Lò Văn C mua được 01 gói Heroin của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ nhân thân lai lịch với giá 500.000 đồng, sau đó C chia thành 06 gói nhỏ, mục đích để bán kiếm lời. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 27/12/2022, tại bản Phiêng Phát, xã Trung Đồng, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, Lò Văn C đã cùng lúc bán trái phép 02 gói Heroin cho 02 người gồm Lù Văn Q và Lù Văn T mỗi người 01 gói, thu tổng số tiền 200.000 đồng. Hồi 11 giờ 05 phút cùng ngày Lù Văn Q và Lù Văn T cùng bị bắt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cùng ngày, Công an huyện Tân Uyên tiến hành lệnh giữ, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và khám xét nơi ở đối với Lò Văn C về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”. Vật chứng thu giữ của C gồm 04 gói Heroin có tổng khối lượng 0,3 gam mục đích để bán và số tiền 300.000 đồng trong đó có 200.000 đồng là tiền của C do bán trái phép Heroin cho T, Q mà có.
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tuy nhiên vì hám lợi bất chính bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lò Văn C không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, bị cáo không biết chữ nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo làm ruộng, thu nhập thấp và không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- 0,08 gam Heroin còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm; 06 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh nilon màu xanh; 02 mảnh giấy bạc màu trắng là vật chứng L quan đến hành vi phạm tội của bị cáo xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo không L quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xem xét trả lại cho bị cáo Lò Văn C.
Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc diện gia đình hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các đối tượng hành vi L quan đến vụ án:
Về nguồn gốc Heroin, Lò Văn C khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ nhân thân, lai lịch tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người đàn ông này nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Lù Văn T và Lù Văn Q là những người mua Heroin của Lò Văn C, sau đó T và Q cùng sử dụng hết vì vậy Công an huyện Tân Uyên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với T và Q cùng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định.
Đối với Lò Văn L là người đến hỏi mua Heroin của Lò Văn C khi cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tân Uyên đang đến nhà C để khám xét. Quá trình điều tra xác định L vừa mới đến nhà C lần đầu và chưa kịp mua, bán Heroin, khi thấy công an đến thì L đã bỏ chạy, vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tân Uyên không có căn cứ để xử lý đối với Lò Văn L.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Lò Văn C 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2022.
Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lò Văn C.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng.
- Trả lại cho bị cáo Lò Văn C số tiền 100.000 đồng.
- Tịch thu và tiêu hủy:
+ 01 phong bì thư của Công an huyện Tân Uyên màu trắng, hình chữ nhật bên trong đựng 0,08 gam Heroin. Vật chứng được niêm phong đúng quy định.
+ 01 phong bì thư của Công an huyện Tân Uyên màu trắng, hình chữ nhật bên trong đựng 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy bạc màu trắng.
+ 01 phong bì thư của Công an huyện Tân Uyên màu trắng, hình chữ nhật bên trong đựng 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy bạc màu trắng.
+ 01 phong bì thư của Công an huyện Tân Uyên màu trắng, hình chữ nhật bên trong đựng 04 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh nilon xanh.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 08 giờ 25 phút, ngày 15/5/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn C.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Tân Uyên; - Chi Cục THADS huyện Tân Uyên; - Công an huyện Tân Uyên; - Bị cáo; Người bào chữa; - Lưu HSVA./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |