vanban.org

Bản án 50/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 11/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Mạnh L, Quách Văn V, Trần Minh C, Bùi Văn D, Trần Quang H, Bùi Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

Điều luật và hình phạt Xử phạt bị cáo Đinh Mạnh L 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 20/3/2023; phạt tiền bổ sung 10.000.000 (Mười triệu) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh mạnh Linh cùng các đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Mạnh L, Quách Văn V, Trần Minh C, Bùi Văn D, Trần Quang H, Bùi Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHO QUAN
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:50/2023/HS-ST
Ngày:11/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lâm Thị Thanh Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Khắc Thái

Ông Lương Mạnh Tường

- Thư ký phiên toà:Ông Nguyễn Văn Bình- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hòa- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2023/TLST- HS ngày 13 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2023/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo:

1.1. Họ và tên: Đinh Mạnh L( tên gọi khác: Không), sinh năm 1988; tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn L1, xã L, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Xuân L2 sinh năm 1962 và bà Trương Thị M sinh năm 1963;Chưa có vợ; Tiền án: Bản án số 28/2012/HSST ngày 08/5/2012 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xử phạt 10.000.000 đồng về tội Đánh bạc. (Ngày 07/6/2023 đã chấp hành xong hình phạt tiền và án phí hình sự); Tiền sự: Không

Lịch sử bản thân: Ngày 27/9/2021, Công an huyện V, tỉnh Đ3 xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong ngày 27/9/2021.

Tại Quyết định số 1704/QĐ-UBND ngày 10/7/2012 về việc đưa người nghiện ma túy vào trung tâm chữa bệnh- giáo dục LĐXH tỉnh Ninh Bình của UBND huyện Nho Quan đối với Đinh Mạnh L. Thời hạn 24 tháng.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/3/2023, chuyển tạm giam ngày 25/3/2023, ngày 09/6/2023 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. (Có mặt).

1.2. Họ và tên: Quách Văn V (tên gọi khác: Không), sinh năm 1987; tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn Hiền Quan, xã L, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quách Văn H sinh năm 1960 và bà Trương Thị Th sinh năm 1960;Vợ Quách Thị Đ4 và 02 con; Tiền án: Tiền sự: Không

Lịch sử bản thân:Bản án số 285/2015/HSST ngày 04/9/2015 của Tòa án nhân dân xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng. (Ngày 25/01/2016 đã chấp hành xong án phí hình sự và ngày 29/10/2016 đã chấp hành hình phạt tù);

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/3/2023, chuyển tạm giam ngày 25/3/2023, ngày 09/6/2023 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. (Có mặt).

1.3. Họ và tên: Trần Minh C (tên gọi khác: Không), sinh năm 1992; tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn C, xã Đồng P, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Mạnh T3 sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị Thúy X sinh năm 1959; Chưa có vợ con; Tiền án:Không

Tiền sự:Tại Quyết định số 0301037/QĐ-XPHC ngày 26/10/2022 của Công an huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xử phạt Trần Minh C 6.500.000đồng về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác. Ngày 26/10/2022 Trần Minh C chấp hành xong khoản tiền phạt .

Lịch sử bản thân: Tại Quyết định số 66/QĐ-XPHC ngày 11/3/2022 của Công an huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xử phạt Trần Minh C 1.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Ngày 11/3/2021 Trần Minh C chấp hành xong khoản tiền phạt.

Tại Quyết định số 109/QĐ-XPHC ngày 13/6/2014 của Công an huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xử phạt Trần Minh C 2.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Ngày 16/6/2014 Trần Minh C chấp hành xong khoản tiền phạt.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/3/2023, chuyển tạm giam ngày 25/3/2023, ngày 12/6/2023 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. (Có mặt).

1.4. Họ và tên: Trần Quang H (tên gọi khác: Không), sinh năm 2000; tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn Y, xã Yên Q, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Quang H3(đã chết) và bà Bùi Thị M2 sinh năm 1979; Có vợ Đinh Thị Kim N1 và 01 con; Tiền án;Không

Tiền sự: Tại Quyết định số 000050/QĐ-XPHC ngày 09/6/2021 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Ninh Bình xử phạt Trần Quang H 4.000.000 đồng về hành vi “Vi phạm quy định về xuất nhập cảnh”. Ngày 03/7/2023 H đã chấp hình phạt tiền.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/3/2023 đến ngày 25/3/2023 được thay đổi bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

1.5. Họ và tên: Bùi Văn D (tên gọi khác: Không), sinh năm 1992; tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn Y, xã Yên Q, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Huy N4 sinh năm 1946 và bà Bùi Thị M6 sinh năm 1952; Có vợ Bùi Thị Hạnh M4 và 02 con; Tiền án; Tiền sự:Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/3/2023 đến ngày 25/3/2023, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

1.6. Họ và tên: Bùi Văn T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1996; tại huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Thôn Liêu Th, xã Đồng Ph, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn C3 (đã chết) và bà Mai Thị M7 sinh năm 1976; Có vợ Nguyễn Thị T4 và 02 con; Tiền án; Tiền sự:Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/3/2023 đến ngày 25/3/2023 được thay đổi bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).

Người làm chứng:

Anh Trịnh Hồng Q; sinh năm 1981

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 19/3/2023, Bùi Văn T, Trần Quang H, Quách Văn V, Bùi Văn D, Trần Minh C đến nhà Đinh Mạnh L ở thôn Lạc 2, xã L, huyện Nho Quan để ăn cơm. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, Đinh Mạnh L rủ Bùi Văn T, Trần Quang H, Quách Văn V, Bùi Văn D, Trần Minh Cđánh bạc thì mọi người đồng ý. Doan đi mua một bộ bài tú lơ khơ Q 52 sau đó cùng Linh, Cảnh, Trường, Hiệu, Vĩnh ngồi xuống thảm đã trải sẵn ở phòng khách nhà Linh để đánh bạc. Trước khi vào đánh bạc Đinh Mạnh L, Quách Văn V, Trần Minh C, Bùi Văn D, Trần Quang H, Bùi Văn T thống nhất đánh bạc bằng hình thức đánh“Liêng”được thua bằng tiền, quy định mỗi ván đặt cửa 10.000 đồng, cược tối đa 50.000 đồng.

Khoảng 16 giờ cùng ngày khi Đinh Mạnh L, Quách Văn V, Trần Minh C, Bùi Văn D, Trần Quang H,Bùi Văn T đang đánh bạc thì có Trịnh Hồng Q sinh năm 1981 trú tại thôn Lạc 2, xã L, huyện Nho Quan đến chơi thấy mọi người đang đánh bạc nên Q đã ngồi tại ghế gỗ trong phòng khách xem, không tham gia đánh bạc.

Đinh Mạnh L, Quách Văn V, Trần Minh C, Bùi Văn D, Trần Quang H, Bùi Văn T đánh bạc đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày đã bị Tổ công tác Công an xã L, huyện Nho Quan phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại chiếu bạc trước vị trí ngồi của các đối tượng trên số tiền 11.640.000 đồng; thu giữ trong người Trần Minh C số tiền 11.500.000 đồng, thu giữ trong người Bùi Văn D số tiền 2.000.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 Q từ A đến K; 01 thảm vải màu đỏ.

Ngoải ra, Công an xã L còn thu giữ của Đinh Mạnh L 01 điện thoại di động 1010, màu đen, IMEI 354198105493443, CODE 0592166.Thu giữ của Trần Minh C 01 ví da màu đen; 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu xanh, IME1 359984545526131, IMEI2 359984545646566; 01 xe mô tô HonDa SH biển kiểm soát: 35N1–590.13, số khung: RLHKF4218NY310281, số máy: KF42-3024664. Thu giữ của Trần Quang H 01 điện thoại di động Iphone 13 Pro màu xanh, IMEI1 353038110879262, IMEI2 353038113534914; 01 xe mô tô Honda AirBlade, biển kiểm soát 35N1–555.55, số khung: RLHJK1400NZ027426, số máy: JK14E-0046882. Thu giữ của Bùi Văn D 01 điện thoại di động Oppo A91 màu đen, IMEI1 860154043480122, IMEI2 860154043480122; 01 xe mô tô HonDa Wave, biển kiểm soát 35N1–462.34, số khung: RLHJA3926LY047028, số máy: JA39E-2049968. Thu giữ của Quách Văn V 01 điện thoại di động NOKIA 1174, IMEI1 307708107498993, IMEI2 387708107499009; 01 xe mô tô HonDa Wave, biển kiểm soát 35N1–041.47, số khung: RLHJC5218CY225786, số máy: JC52E- 4327048. Thu giữ của Bùi Văn T 01 điện thoại di động NOKIA 1203, IMEI 350618546489274.

Sau đó Công an xã L chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nho Quan xử lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra xác định, tổng số tiền mà Đinh Mạnh L, Quách Văn V, Trần Minh C, Bùi Văn D, Trần Quang H, Bùi Văn T sử dụng để đánh bạc là 25.140.000 đồng. Trong đó, Đinh Mạnh L sử dụng số tiền 840.000 đồng, khi bị bắt quả tang Linh đang thắng số tiền 200.000 đồng; Quách Văn V sử dụng số tiền 1.200.000 đồng, khi bị bắt quả tang Vĩnh đang thua số tiền 200.000đồng; Trần Minh C sử dụng số tiền 12.000.000 đồng,khi bị bắt quả tang Cảnh đang thắng 1.000.000 đồng; Bùi Văn D sử dụng số tiền 2.800.000 đồng, khi bị bắt quảtang Doan đang thua số tiền 240.000 đồng; Trần Quang H sử dụng số tiền 6.000.000 đồng, khi bị bắt quả tang Hiệu đang thua số tiền 460.000đồng; Bùi Văn T sử dụng số tiền 2.300.000 đồng, khi bị bắt quả tang Trường đang thua số tiền 300.000 đồng.

Tại cáo trạng số 51/CT- VKS ngày 09 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan đã truy tố các bị cáo Đinh Mạnh L, Quách Văn V, Trần Minh C, Bùi Văn D, Bùi Văn T, Trần Quang H để xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Đinh Mạnh L, Quách Văn V, Trần Minh C, Bùi Văn D, Bùi Văn T, Trần Quang H phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đinh Mạnh L từ 12 (Mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/3/2023.

Phạt tiền bổ sung 10.000.000đồng đến 15.000.000 đồng.

Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Quách Văn V từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/3/2023.

Phạt tiền bổ sung 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng.

Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Minh C từ 05 (năm) tháng đến 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 20/3/2023.

Phạt tiền bổ sung 10.000.000 đồng đến 15.000.000đồng.

Áp dụng: khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Quang H từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ (bị cáo được trừ 06 ngày tạm giữ bằng 18 ngày cải tạo không gian giữ). Thời hạn tính từ ngày Cơ quan thi hành án Hình sự cấp huyện nhận được quyết định thi hành án; Khấu trừ từ 5% đến 7% thu nhập hàng tháng của bị cáo Trần Quang H để sung ngân sách Nhà nước; Giao bị cáo Trần Quang H cho Ủy ban nhân dân xã Yên Quang, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Phạt tiền bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự đối với Bùi Văn D và Bùi Văn T. Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn D và bị cáo Bùi Văn T từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 25.140.000 đồng thu giữ tại chiếu đánh bạc và trên người các bị cáo sử dụng để đánh bạc, đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài 52 Q từ A đến K; 01 thảm vải màu đỏ đây là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc đánh bạc không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326 của UBTVQH các bị cáo Đinh Mạnh L, Quách Văn V, Trần Minh C, Bùi Văn D, Bùi Văn T, Trần Quang H bị kết án phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng, không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo: Tại phiên toà các bị cáo Đinh Mạnh L, Quách Văn V, Trần Minh C, Trần Quang H, Bùi Văn D, Bùi Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố; Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, biên bản xác minh...Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 19/3/2023, tại phòng khách nhà Đinh Mạnh L thôn L1, xã L, huyện Nho Quan. Đinh Mạnh L, Quách Văn V, Trần Minh C, Bùi Văn D, Trần Quang H, Bùi Văn T đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh Liêng được thua bằng tiền. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an xã L phát hiện bắt quả tang, thu giữ tổng số tiền các bị cáo Đinh Mạnh L, Quách Văn V, Trần Minh C, Bùi Văn D, Trần Quang H, Bùi Văn T sử dụng để đánh bạc là 25.140.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1; khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Điều 321: Tội đánh bạc

1.Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000đ đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 5.000.000đ nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của bộ luật này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 20.000.000đ đến 100.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

…………………………………..

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Cáo trạng số 51/CT - VKS ngày 09/6/2023 truy tố các bị cáoĐinh Mạnh L, Quách Văn V, Trần Minh C, Trần Quang H, Bùi Văn D, Bùi Văn T theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự an ninh ở địa phương, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Từ việc đánh bạc dẫn đến tiêu tán tài sản, kinh tế của nhiều gia đình, cá nhân và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ đánh bạc dưới hình thức chơi đánh Liêng được thua bằng tiền là một hình thức đánh bạc bị Nhà nước cấm, nhưng vì lười lao động, muốn kiếm tiền nhanh chóng nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Để đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung thì việc truy tố, xét xử và buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết.

Xét về vai trò của các bị cáo: Các bị cáo tham gia vụ án với tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc thống nhất từ trước. Căn cứ vào mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:

Bị cáo Đinh Mạnh L là người khởi xướng rủ các bị cáo Quách Văn V, Trần Minh C, Bùi Văn D, Trần Quang H, Bùi Văn T, bị cáo Linh tham gia đánh bạc được thua bằng tiền, bị cáo Linh sử dụng số tiền 840.000 đồng vào đánh bạc (bị cáo Linh khi bị bắt đang thắng số tiền 200.000 đồng) nên bị cáo Đinh Mạnh L được xếp vai trò đầu trong vụ án.

Các bị cáo Quách Văn V, Trần Minh C, Bùi Văn D, Trần Quang H, Bùi Văn T khi được bị cáo Linh rủ đánh bạc thì tham gia luôn. Căn cứ vào thời gian đánh bạc và số tiền các bị cáo đánh bạc và nhân thân của các bị cáo (Bị cáo Vĩnh sử dụng số tiền đánh bạc là 1.200.000 đồng; bị cáo Cảnh sử dụng vào đánh bạc số tiền 12.000.000 đồng; bị cáo Hiệu sử dụng vào đánh bạc số tiền 6.000.000 đồng; bị cáo Doan sử dụng vào đánh bạc số tiền 2.800.000 đồng; bị cáo Trường sử dụng vào đánh bạc số tiền 2.300.000 đồng).

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Đinh Mạnh L và bị cáo Quách Văn Vquá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, Do đó, cần cho bị cáo hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáoTrần Minh C, Bùi Văn D, Bùi Văn T, Trần Quang H đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Trần Quang H bố bị cáo mới mất được gần 01 tháng khi bị cáo đang trong quá trình chuẩn bị xét xử và con của bị cáo mới sinh được 03 tháng, bị cáo là lao động chính có hoàn cảnh khó khăn (Có xác nhận của chính quyền địa phương) nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Đối với bị cáo Đinh Mạnh L đã có 01 tiền án Tại bản án số 28/2012/HSST ngày 08/5/2012 Tòa án nhân dân huyện Nho Quan xử phạt 10.000.000đ về tội “ Đánh bạc”. Chưa chấp hành xong hình phạt chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do cố ý, do vậy bị cáo phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Quách Văn V, Trần Minh C, Bùi Văn D, Trần Quang H, Bùi Văn T không có tình tiết tăng nặng.

Về nhân thân của các bị cáo: bị cáo Bùi Văn D, Bùi Văn T đều có nhân thân tốt.

Bị cáo Đinh Mạnh L; Quách Văn V, Trần Minh C, Trần Quang H có nhân thân xấu.

Đối với bị cáo Đinh Mạnh L: Ngày 27/9/2021Công an huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản.

Đối với Quách Văn V bị cáo đã từng có 01 tiền án về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy và đã bị xử phạt 02 năm tù bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí đến lần phạm tội này bị cáo đã được xóa án.

Đối với bị cáoTrần Minh C: bản thân bị cáo Cảnh có 01 tiền sự về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”. Ngày 26/10/2022 Công an huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính xử phạt Trần Minh C 6.500.000 đồng. Ngày 26/10/2022, Trần Minh C chấp hành xong khoản tiền phạt . Ngoài ra bị cáo Cảnh còn đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi “đánh bạc”, hành vi “Cố ý gây thương tích” tuy nhiên bị cáo đã chấp hành xong và được coi là chưa bị xử phạt hành chính.

Đối với Trần Quang H bị cáo có 01 tiền sự về hành vi Vi phạm quy định về xuất nhập cảnh bị xử phạt 4.000.000 đồng, bị cáo đã chấp hành ngày 03/7/2023.

Xét tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo, vị trí vai trò của các bị cáo trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo Đinh Mạnh L là người giữ vai trò đầu, trực tiếp rủ các bị cáo khác đánh bạc. Bị cáo có 01 tiền án về tội đánh bạc chưa được xóa án nay lại tiếp tục phạm tội và nhân thân đã từng 02 lần bị xử phạt hành chính. Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với Quách Văn V người giữ vai trò thứ hai, bị cáo sử dụng vào đánh bạc với số tiền 1.200.000 đồng. Bị cáo nhân thân xấu đã từng 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đã được xóa án nay lại tiếp tục phạm tội. Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét tính chất mức độ hành vi và tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo Đinh Mạnh L, Quách Văn V thì thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo Linh, Vĩnh, Cảnh ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe phòng ngừa chung và áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối Với Trần Minh C người giữ vai trò thứ ba, bị cáo sử dụng vào đánh bạc với số tiền 12.000.000 đồng. Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi “Xâm phạm sứ khỏe người khác” chưa được xóa án nay lại tiếp tục phạm tội. Ngoài 01 tiền sự trên bị cáo đã từng bị Công an huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình 02 lần xử phạt hành chính về các hành vi “Đánh bạc” và hành vi “Xâm phạm sức khỏe người khác”. Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 BLHS; không có tình tiết tăng nặng bản thân phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng vẫn cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và có tác dụng răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo Trần Minh C để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Trần Quang H người giữ vai trò thứ tư, bị cáo sử dụng vào đánh bạc với số tiền 6.000.000 đồng. Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi “Vi phạm quy định về xuất nhập cảnh”. Ngày 03/7/2023 bị cáo Hiệu đã chấp hành đến nay chưa được coi là chưa bị xử lý hành chính tuy nhiên bị cáo Trần Quang H lần phạm tội này phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng . Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và bản thân bị cáo có hoàn cảnh khó khăn bố bị cáo mới mất cách đây gần 01 tháng, bị cáo là lao động chính trong gia đình, con mới sinh được 03 tháng có xác nhận của chính quyền địa phương nên bị cáo 01 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên căn cứ vào các điều kiện áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ và cần phải áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền và khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ giáo dục bị cáo thành người công dân tốt có ích cho xã hội.

Đối với các bị cáo Bùi Văn T và Bùi Văn D có vai trò sau cùng, đều chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy cần áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự phạt tiền đối với các bị cáo là đủ giáo dục cải tạo các bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Đối với 01 bộ bài lơ khơ 52 Q từ A đến K; 01 thảm vải màu đỏ sử dụng vào việc đánh bạc, không còn giá trị sử dụng. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền 25.140.000 đồng sử dụng để đánh bạc thu giữ tại chiếu đánh bạc và số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc đây là phương tiện, công cụ dùng vào việc phạm tội, do vậy cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu số tiền trên của các bị cáo xung vào ngân sách Nhà Nước. Theo ủy nhiệm chi lập ngày15/6/2023của cơ quan CSĐT công an huyện Nho Quan chuyển vào tài khoản: 3949.0.1055021.00000 tại Kho bạc Nhà nước huyện Nho Quan.

Đối với các vấn đề khác:

Đối với anh Trịnh Hồng Q: Quá trình điều tra đã chứng minh anh Trịnh Hồng Q không tham gia đánh bạc cùng với Đinh Mạnh L, Quách Văn V, Trần Minh C, Bùi Văn D, Bùi Văn T, Trần Quang H nên anh Q không phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này.

Đối với 01 xe mô tô Honda AirBlade, số khung: RLHJK1400NZ027426, số máy: JK14E-0046882 được đăng ký biển kiểm soát: 35N1- 560.65 thu giữ của Trần Quang H. Quá trình điều tra xác minh chủ sở hữu là chị Đinh Thị Kim Ngọc sinh năm 2001 (vợ của Trần Quang H). Ngày 19/3/2023, Hiệu điều khiển xe mô tô lắp biển số biển kiểm soát 35N1–555.55 không đúng với Giấy đăng ký xe, biển số không do Cơ quan có thẩm quyền cấp phạm vào Điểm c, Khoản 2, Điều 17 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hành vi vi phạm và chiếc xe mô tô AirBLade, số khung: RLHJK1400NZ027426, số máy: JK14E-0046882 cùng chiếc biển kiểm soát 35N1-555.55 đến Đội Cảnh sát giao thông – trật tự Công an huyện Nho Quan để xử lý theo quy định.

Đối với 01 điện thoại di động 1010, màu đen, IMEI 354198105493443; CODE 0592166 là tài sản hợp pháp của Đinh Mạnh L; 01 ví da màu đen, 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu xanh, IMEI1 359984545526131, IMEI2 359984545646566, 01 xe mô tô Honda SH, biển kiểm soát: 35N1– 590.13 là tài sản hợp phápcủa Trần Minh C; 01 điện thoại di động Iphone 13 Pro màu xanh, IMEI1 353038110879262, IMEI2 353038113534914 là tài sản hợp pháp Trần Quang H; 01 điện thoại di động Oppo A91 màu đen, IMEI1 860154043480122, IMEI2 860154043480122, 01 xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát: 35N1–462.34 là tài sản hợp pháp của Bùi Văn D; 01 điện thoại di động NOKIA 1174, IMEI1 307708107498993, IMEI2 387708107499009 là tài sản hợp pháp của Quách Văn V; 01 điện thoại di động NOKIA 1203, IMEI 350618546489274 là tài sản hợp pháp của Bùi Văn T; 01 xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 35N1–041.47 là tài sản hợp pháp của ông Quách Văn Huy sinh năm 1960, trú tại thôn Hiền Quan, xã L, huyện Nho Quan là bố đẻ của Quách Văn V.

Quá trình điều tra xác định Đinh Mạnh L, Quách Văn V, Trần Minh C, Bùi Văn D, Trần Quang H, Bùi Văn T không sử dụng điện thoại, xe mô tô vào việc đánh bạc. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nho Quan đã trả cho chủ sở hữu là phù hợp.

Án phí hình sự:

Các bị cáo Đinh Mạnh L, Quách Văn V, Trần Minh C, Bùi Văn D, Trần Quang H, Bùi Văn T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố: Các bị cáo Đinh Mạnh L, Quách Văn V, Trần Minh C, Bùi Văn D, Trần Quang H, Bùi Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

2. Điều luật và hình phạt

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đinh Mạnh L;

Xử phạt bị cáo Đinh Mạnh L 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 20/3/2023; phạt tiền bổ sung 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Quách Văn V;

Xử phạt bị cáo Quách Văn V 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 20/3/2023; phạt tiền bổ sung 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáoTrần Minh C;

Xử phạt bị cáo Trần Minh C 05 (Năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 20/3/2023; phạt tiền bổ sung 10.000.000 (Mười triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với Trần Quang H;

Xử phạt: bị cáo Trần Quang H 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ (được đối trừ 06 ngày tạm giữ bằng 18 ngày cải tạo không giam giữ) thời hạn tính từ ngày Cơ quan thi hành án cấp huyện nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị cáo Trần Quang H cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Khấu trừ 5% thu nhập của bị cáo Trần Quang H trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Xử phạt bổ sung bị cáo Trần Quang H 10.000.000 đồng (mười triệu) đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Bùi Văn D, Bùi Văn T.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn D 25.000.000 đồng ( Hai mươi lăm triệu đồng).

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 22.000.000 đồng ( Hai mươi hai triệu đồng).

3. Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 25.140.000 đồng các bị cáo sử dụng để đánh bạc thu giữ tại chiếu đánh bạc và số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc đây là phương tiện, công cụ dùng vào việc phạm tội. Theo ủy nhiệm chi lập ngày 15/6/2023 của cơ quan CSĐT công an huyện Nho Quan chuyển vào tài khoản 3949.0.1055021.00000 tại Kho bạc Nhà nước huyện Nho Quan.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài lơ khơ 52 Q từ A đến K; 01 thảm vải màu đỏ sử dụng vào việc đánh bạc, không còn giá trị sử dụng. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày12/6/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Đinh Mạnh L, Quách Văn V, Trần Minh C, Bùi Văn D, Trần Quang H, Bùi Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư-ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./

Cỡ chữ