vanban.org

Bản án 50/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ T

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Lệ T được ly hôn với ông Nguyễn Đức N Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Hoàng Bảo H, sinh ngày 15-9-2006.Bà Nguyễn Thị Lệ T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hoàng Bảo H. Bà T không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYEN LE TH, NGUYEN DUC T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ T
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP V
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20/04/2023
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V

TỈNH B

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải

Ông Hà Văn Trường

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố V.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị

Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 04 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân sơ thẩm thụ lý số 874/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 20A/QĐST-HPT ngày 20 tháng 3 năm 2023 giữa:

1.Nguyên đơn: Nguyễn Thị Lệ T, Sinh năm 1980

Địa chỉ: 121/2 Huyền Trân Công Chúa, phường 8, thành phố V, tỉnh B. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

2.Bị đơn: Nguyễn Đức N sinh năm: 1976

Địa chỉ: 151/25 Phạm Hồng Thái, phường 7, thành phố V, tỉnh B ( vắng mặt xét xử lần 2 không có lý do chính đáng)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 05 tháng 08 năm 2022 và quá trình làm việc tại tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Lệ T trình bày:

Bà và ông N chung sống và có kết hôn ngày 30/11/2001 tại UBND Phường 4, thành phố V, tỉnh B. Sau khi kết hôn, quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau. Nay, bà T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Đức N.

Về con chung: Bà T xác định có 01 con chung là Nguyễn Hoàng Bảo H, sinh ngày 15-9-2006. Bà T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Về Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Nguyễn Đức N vắng mặt nhiều lần làm việc, các phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử không lý do chính đáng.

* Ý kiến của kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng: Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ đã thực hiện đúng các quy định pháp luật. Đối với Hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng; thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ tại phiên tòa. Đối với nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ T đối với ông Nguyễn Đức N.

- Hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Lệ T được ly hôn với ông Nguyễn Đức N.

- Con chung: có 01 con chung là Nguyễn Hoàng Bảo H, sinh ngày 15-9-2006. Bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Xét thấy, con có nguyện vọng được ở với mẹ, trên thực tế hiện nay các cháu đang sống cùng với mẹ, đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án ông N không thể hiện nguyện vọng nuôi con. Do đó, nhằm không làm xáo trộn cuộc sống của trẻ nên đề nghị giao con cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Bà T không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị không xem xét.

- Tài sản chung, nợ chung: không ai yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Ngày 05-08-2022 bà Nguyễn Thị Lệ T có đơn khởi kiện ông Nguyễn Đức N về việc xin ly hôn. Bà T và ông N chung sống với nhau có đăng ký kết hôn; bị đơn có nơi cư trú tại thành phố V, vì vậy xác định đây là vụ án khởi kiện về việc “ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố V.

Tại phiên tòa hôm nay, bà T có đơn xin giải quyết vắng mặt, ông N nhiều lần vắng mặt không có lý do chính đáng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông N theo khoản 1, 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về nội dung:

. Về hôn nhân:

Bà T và Ông N chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND Phường 4, thành phố V, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, bà T cho rằng vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lối sống, không có tiếng nói chung. Nay bà T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông N. Qua xác minh được biết trong quá trình chung sống, vợ chồng có xảy ra nhiều mâu thuẫn. Quá trình giải quyết vụ án, ông N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, Hội đồng xét xử đã tạo điều kiện cho ông N trình bày ý kiến, nguyện vọng của mình để Hội đồng xét xử xem xét nhưng ông N không thể hiện thiện chí đoàn tụ hàn gắn gia đình, đã tự tước bỏ quyền lợi của mình.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà T và ông N là có thật; Vợ chồng không có thiện chí đoàn tụ, hàn gắn gia đình, mỗi người sống cho cá nhân của mình không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, do đó cuộc sống vợ chồng không còn ý nghĩa, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên nguyện vọng yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông N là có cơ sở nên chấp nhận.

. Có 01 con chung là Nguyễn Hoàng Bảo H, sinh ngày 15-9-2006. Xét thấy, con có nguyện vọng được ở với mẹ, trên thực tế hiện nay các cháu đang sống cùng với mẹ, đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án ông N không thể hiện nguyện vọng nuôi con. Do đó, nhằm không làm xáo trộn cuộc sống của trẻ nên đề nghị giao các con cho bà T nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp.

. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

. Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

.Về án phí: Bà T phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82,83,84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 39 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ T

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Lệ T được ly hôn với ông Nguyễn Đức N

Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Hoàng Bảo H, sinh ngày 15-9-2006.Bà Nguyễn Thị Lệ T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hoàng Bảo H. Bà T không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông N được quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

Trên cơ sở lợi ích của con, trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không ai yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Lệ T phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003243 ngày 07 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố V. Bà T đã nộp xong.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án tỉnh B xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ