vanban.org

Bản án 50/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 05/06/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Minh C đối với anh Phạm Ngọc Đ về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Chị Nguyễn Thị Minh C được ly hôn anh PhạmNgọc Đ. Về con chung: Giao cháu Phạm Ngọc Trung K, sinh ngày 05/5/2022 cho chị C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Minh C đối với anh Phạm Ngọc Đ về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HUẾ
TỈNH THỪA THIÊNHUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05/6/2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lân và bà Trần Thị Thanh Xuân.

-Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thái Vũ, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Đông, Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế (số 60 Nguyễn Huệ - Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 648/2022/TLST-HNGĐ ngày 04/10/2022; Về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/QĐST- HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2023/QĐST- HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Minh C, sinh năm 1994; địa chỉ: Số 04/313 đường L, phường T, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

Bị đơn: Anh Phạm Ngọc Đ, sinh năm 1991; địa chỉ: Số 53 đường T, phường T, thành phố Huế , tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 26/8/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Minh C đều trình bày:

Chị và anh Phạm Ngọc Đ chung sống với nhau như vợ chồng và có tổ chức đám cưới vào ngày 21/4/2019 nhưng đến ngày 13/6/2022 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Huế. Sau khi cưới hỏi, vợ chồng chị sống tại nhà chị gái của anh Đức tại 53 (51 cũ) đường T, phường T, thành phố Huế. Qúa trình chung sống với nhau không có hạnh phúc, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm sống, anh Đ ham nhậu nhẹt, rượu chè, không quan tâm gì đến vợ con làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên sau khi đăng ký kết hôn được 02 tháng, đến tháng 8/2022 thì chị và anh Đ sống ly thân từ đó cho đến nay, không liên lạc, không quan tâm gì đến nhau nữa. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị khởi kiện xin ly hôn anh Đ để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị C khai chị và anh Đ có 01 con chung là Phạm Ngọc Trung K, sinh ngày 05/5/2022, hiện đang ở với chị. Chị C có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu K và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị C khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Phạm Ngọc Đ không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án, không đến Toà án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Tại phiên toà, anh Đ vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Tại biên bản lấy khai ngày 13/3/2023, chị Phạm Thị Thu H (chị gái của anh Đ) trình bày: Do bố mẹ đi làm ăn xa nên vợ chồng anh Đ chị C ở với chị từ ngày cưới. Qúa trình vợ chồng anh Đ chị C chung sống với nhau bắt đầu có mâu thuẫn kể từ khi chị C sinh con nên từ tháng 8 năm 2022 thì chị C đem con về nhà mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau. Hiện chỉ có một mình anh Đ ở với chị.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin ly hôn anh Phạm Ngọc Đ, xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế có ý kiến:

[1] Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

- Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Quyền và nghĩa vụ của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử chưa thực hiện đúng các quy định tại khoản 16 Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Minh C.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Minh C được ly hôn anh Phạm Ngọc Đ.

Về con chung: Giao cháu Phạm Ngọc Trung K, sinh ngày 05/5/2022 cho chị Nguyễn Thị Minh C chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị C không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị C không yêu cầu Toà án giải quyết nên Viện kiểm sát không xem xét.

Về án phí: Buộc chị C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Minh C khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Phạm Ngọc Đ. Anh Đ có nơi cư trú tại: Số 53 đường T, phường T, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Huế thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Ngọc Đ và chị Nguyễn Thị Minh C có quá trình chung sống với nhau, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Huế vào ngày 13/6/2022 (số 58, năm 2022). Như vậy, hôn nhân giữa anh Đ và chị C là hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Minh C, Hội đồng xét xử xét thấy:

Quá trình chị C và anh Đ chung sống với nhau hạnh phúc chỉ được một thời gian rất ngắn, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp tính nhau. Trên thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 08 năm 2022 cho đến nay là phù hợp với xác minh tại chính quyền địa phương phường T, thành phố Huế xác nhận “Hiện nay chị C không còn chung sống với anh Phạm Ngọc Đ tại số nhà 53 đường T, phường T, thành phố Huế”. Như vậy, có cơ sở xác định đời sống chung hiện nay giữa anh Đ và chị C không tồn tại.

Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Toà án đã nhiều lần tống đạt giấy triệu tập, nhưng anh Đ không đến Toà án để làm việc, hòa giải và không tham gia xét xử tại phiên tòa, không liên lạc với chị C là thể hiện sự bỏ mặc, không có thiện chí mong muốn để hòa giải đoàn tụ gia đình, nên mục đích hôn nhân là không thể đạt được.

Xét thấy hôn nhân giữa anh Đ và chị C đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận đơn của chị C, cho chị C được ly hôn anh Đ.

Về con chung: Chị C và anh Đ có 01 con chung là Phạm Ngọc Trung K, sinh ngày 05/5/2022, hiện đang ở với chị C.

Xét yêu cầu được trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của chị C, Hội đồng xét xử thấy rằng: Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng chị C và anh Đ do anh Đ ham nhậu nhẹt rượu chè, không quan tâm gì đến vợ con. Cháu K hiện chưa đủ 36 tháng tuổi. Nhằm để đảm bảo sự phát triển bình thường, ổn định tâm lý cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không gây xáo trộn việc hiện nay cháu K đang ở với chị C, nên Hội đồng xét xử cần phải giao cháu Phạm Ngọc Trung K cho chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn.

Về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn: Do chị C không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Đ chưa thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Minh C đối với anh Phạm Ngọc Đ về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Chị Nguyễn Thị Minh C được ly hôn anh PhạmNgọc Đ.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Ngọc Trung K, sinh ngày 05/5/2022 cho chị C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.

Anh Đ chưa thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2004; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị C không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm gồm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004504 ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế. Chị C đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ