vanban.org

Bản án 50/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần G.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho nguyên đơn chị Trần G được ly hôn với bị đơn anh Tăng K. Về con chung: Chị Trần G và anh Tăng K có 02 người con chung tên Tăng Q, sinh ngày 08-11-2015, Tăng H, sinh ngày 18-7-2018. Giao cho Chị G trực tiếp nuôi 02 con chung theo nguyện vọng của cháu Q. Về cấp dưỡng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần G.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 13-7-2023
“Về việc tranh chấp ly hôn và quyền
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Quyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bé.

2. Bà Lê Thị Cúc Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Ông Sơn Nhựt Nhân- Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 79/2023/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 02 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn và quyền nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 31/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần G, sinh năm 1997 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: khóm A thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh

Bị đơn: Anh Tăng K, sinh năm 1995 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 30-01-2023, lời khai của chị Trần G trong quá trình tham gia tố tụng trình bày:

Vào ngày 04-8-2015, chị có xác lập quan hệ vợ chồng với anh Tăng K và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Trong quá trình chung sống chị và anh K có 02 con chung tên: Tăng Q, sinh ngày 08-11-2015 và Tăng H, sinh ngày 18-7-2018. Hiện nay con chung đang sống chung với chị. Về tài sản chung và nợ chung: không có. Nguyên nhân mâu thuẫn: do anh K không quan tâm lo lắng cho gia đình vợ con, anh K đi làm không đem tiền về phụ giúp chị nuôi con, ăn nhậu về nhà kiếm chuyện cự cãi nên chị và anh K đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân anh K đi làm nhiều lần về thăm cha mẹ ruột nhưng không một lần nào về thăm con. Con bị bệnh anh K và gia đình cũng không có quan tâm lo lắng. Anh K còn nhiều lần hăm dọa chị và gia đình chị, chị đã nhiều lần làm đơn gởi đến Toà án xin ly hôn, Toà triệu tập nhiều lần nhưng anh K không chịu đến để giải quyết, vì vậy chị đã rút đơn tạo cơ hội cho anh nhưng tính tình anh không thay đổi. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:

- Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Tăng K.

- Về con chung: Chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên: Tăng Q, sinh ngày 08-11-2015, Tăng H, sinh ngày 18-7-2018 và chị không yêu cầu anh K phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Tăng K đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên hòa giải hai lần và được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa hai lần nhưng anh Tăng K đều vắng mặt và không có lời trình bày.

Những vấn đề mà các đương sự đã thống nhất và không thống nhất: Không có.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nhiều lần gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51 và 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trần G về việc cho chị ly hôn với anh Tăng K; về con chung chấp nhận yêu cầu của Chị G giao 02 con chung là Tăng Q, sinh ngày 08-11-2015, Tăng H, sinh ngày 18-7-2018 cho Chị G trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng của cháu Q, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con do Chị G không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; buộc chị Trần G phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, suốt quá trình thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt và không có yêu cầu phản tố. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn Trần G khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Tăng K. Đồng thời bị đơn có địa chỉ tại ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa vắng mặt chị Trần G (có đơn xin xét xử vắng mặt). Riêng anh Tăng K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Theo chị Trần G khai thì cả hai đều tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 114/2015, quyển số 01/2015, vào ngày 04-8-2015. Lời trình bày của Chị G là phù hợp với tài liệu đã cung cấp là Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân thị trấn T cấp ngày 04/8/2015 nên xác định hôn nhân giữa chị Trần G và anh Tăng K là hôn nhân hợp pháp. Theo nguyên đơn Chị G trình bày năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cãi vả do bất đồng quan điểm anh K không quan tâm lo lắng cho gia đình vợ con, anh K đi làm không đem tiền về phụ giúp chị nuôi con, ăn nhậu về nhà kiếm chuyện cự cãi. Do đó anh K đã bỏ mẹ con chị về nhà mẹ ruột và sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Do cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, chị nhận thấy không còn tình cảm với anh K nên xin ly hôn.

Xét thấy, vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, do bất đồng quan điểm, không hiểu nhau dẫn đến vợ chồng phát sinh cãi vả nên Chị G và anh K đã sống ly thân đến nay (hơn 04 năm), không ai quan tâm cuộc sống của ai. Lời khai của Chị G về việc vợ chồng sống ly thân thời gian dài cũng phù hợp với biên bản xác minh ngày 06 tháng 06 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện T tại địa phương về tình trạng hôn nhân cuả anh chị (bút lục 30-31). Hiện vợ chồng Chị G và anh K mỗi người đều có cuộc sống riêng, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã mời hòa giải hai lần vào các ngày 05/5/2023 và 26/5/2023 để tạo điều kiện hàn gắn hôn nhân giữa Chị G và anh K. Mặc dù đã được tống đạt hợp lệ, mẹ anh K nhận thay và có thông báo cho anh nhưng anh K đều vắng mặt không có lý do, chứng tỏ anh K cũng không có ý muốn hàn gắn cùng Chị G. Trong các lần hòa giải Chị G khẳng định không còn yêu thương anh K. Từ những nhận định trên chứng tỏ mâu thuẫn giữa Chị G và anh K đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận cho Chị G được ly hôn với anh K.

Về con chung: Chị Trần G và anh Tăng K có 02 người con chung tên Tăng Q, sinh ngày 08-11-2015 và Tăng H, sinh ngày 18-7-2018 Chị G yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai ngày 26-5-2023 của cháu Tăng Q (bút lục 25) thể hiện cháu có nguyện vọng tiếp tục sống với mẹ. Xét từ lúc nhỏ đến nay các cháu sống với mẹ tại nhà bà ngoại, anh K sống ly thân với Chị G từ năm 2019 đến nay. Do đó việc giao con cho Chị G tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp để đảm bảo không thay đổi môi trường sống và phù hợp nguyện vọng của con chung. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Chị G giao 02 con chung tên Tăng Q, sinh ngày 08-11-2015, Tăng H, sinh ngày 18-7-2018 cho Chị G tiếp tục nuôi dưỡng.

Hội đồng xét xử đã giải thích về vấn đề cấp dưỡng nuôi con nhưng Chị G không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi hai con chung. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần G khai không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Anh Tăng K vắng mặt nên không có lời khai. Hội đồng xét xử dành cho anh Tăng K quyền khởi kiện một vụ kiện khác nếu có yêu cầu và chứng minh được về tài sản chung và nợ chung.

Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị Trần G phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Tăng K không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần G.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho nguyên đơn chị Trần G được ly hôn với bị đơn anh Tăng K.

2. Về con chung: Chị Trần G và anh Tăng K có 02 người con chung tên Tăng Q, sinh ngày 08-11-2015, Tăng H, sinh ngày 18-7-2018. Giao cho Chị G trực tiếp nuôi 02 con chung theo nguyện vọng của cháu Q. Về cấp dưỡng nuôi con Tòa án đã giải thích cho Chị G về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nhưng do Chị G không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần G khai không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Anh Tăng K vắng mặt nên không có lời khai. Hội đồng xét xử dành cho anh Tăng K quyền khởi kiện một vụ kiện khác nếu có yêu cầu về tài sản chung và nợ chung.

4. Về án phí: Chị Trần G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí Chị G đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014928 ngày 22-02-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Trà Vinh. Chị Trần G đã nộp xong án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để xin xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ