vanban.org

Bản án 50/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị

2/. Về con chung: Giao 02 người con tên TAT, sinh ngày 23/6/2016 và TTP, sinh ngày 03/12/2017 cho chị C được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện tại cháu T Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Kim Cương - Trần Thanh Hiền"
  • Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PL
TỈNH BL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 05/5/2023
(V/v: Tranh chấp yêu cầu xin
ly hôn và nuôi con chung)

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL, TỈNH BL

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Văn An

Các hội thẩm nhân dân:

1/. Ông Đặng Văn Chiểu

2/. Bà Nguyễn Hồng Lành

T ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – T ký Tòa án nhân dân huyện PL, tỉnh BL.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan, Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PL, tỉnh BL xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 50/2023/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 53/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Kim C, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Ấp BB, xã PTTB, huyện PL, tỉnh BL.

- Bị đơn: Anh TTH, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Ấp BB, xã PTTB, huyện PL, tỉnh BL.

(Chị C có đơn xin vắng mặt, anhH vắng mặt lần 2 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/12/2022, bản tự khai và các biên bản lấy lời khai trong quá trình tố tụng, cũng như lời trình bày tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Huỳnh Kim C trình bày: Vào năm 2016, được sự thống nhất của hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán ở địa phương cho chị và anhH nên vợ thành chồng, hôn nhân của chị và anhH là hoàn toàn tự nguyện, sau đó chị và anhH có đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Bình Hòa, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật.

Nguyên nhân mâu thuẫn để chị yêu cầu xin ly hôn với anhH là do tính tình giữa hai người không hòa hợp, cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng và không còn hạnh phúc như trước. AnhH không có chí thú làm ăn, lại còn sa vào các tệ xã hội như đánh bài, cá độ bóng đá qua mạng, không biết quan tâm đến cuộc sống gia đình, không quan tâm đến vợ con. Từ đó, vợ chồng Tờng xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau. Nay xét thấy cuộc sống vợ chồng không thể hàn gắn được với nhau nữa, hiện tại chị không còn tình cảm gì với anhH nữa nên nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh TTH.

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị và anhH có 02 người con chung tên TAT, sinh ngày 23/6/2016 và TTP, sinh ngày 03/12/2017. Hiện tại cả hai cháu T vàP đang sống cùng với chị nên nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con và không yêu cầu anhH phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị C xác định vợ chồng chung sống với nhau không có tài sản chung và nợ chung nên khi ly hôn chị không đặt ra yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với bị đơn anh TTH: Mặc dù anhH đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập để làm việc và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anhH vẫn không đến Tòa án để làm việc theo nội dung giấy triệu tập của Tòa án và cũng không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với anhH theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PLP biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm như sau:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, T ký, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn chị Huỳnh Kim C là đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, Thẩm phán thực hiện chưa đúng theo quy định tại Điều 220 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn anh TTH chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung vụ án: Chị Cvà anhH kết hôn với nhau vào năm 2016, hôn nhân của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng trong thời gian chung sống vợ chồng anh chịP sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, hiện tại anh chị mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Xét thấy hôn nhân giữa chị C và anhH nếu tiếp tục kéo dài thì cũng không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị C được ly hôn với anhH là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Từ khi chị C và anhH sống ly thân cho đến nay thì chị C là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu T vàP. AnhH không tranh chấp quyền nuôi con với chị C nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cả hai người con tên TAT, sinh ngày 23/6/2016 và TTP, sinh ngày 03/12/2017 cho chị C được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về tài sản chung và nợ chung: Khi ly hôn chị C và anhH không đặt ra yêu cầu, nên đềP Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình chị C phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sởP biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị C có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh TTH, anhH có địa chỉ cư trú tại huyện PL, tỉnh BL. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện PL, tỉnh BL.

Chị Huỳnh Kim C có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị C.

Anh TTH đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng anhH vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anhH.

Về nội dung vụ án: Chị C và anhH kết hôn với nhau vào năm 2016, hôn nhân của anh chị là hoàn toàn tự nguyện, sau đó anh chị có đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Bình Hòa, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị C đối với anhH thì Hội đồng xét xử thấy rằng: Mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu Tơng, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ. Nhưng trong thời gian chung sống vợ chồng chị C và anhH lại không làm được, mà cònP sinh nhiều mẫu thuẫn không thể hàn gắn lại được. Hiện tại chị và anhH cũng đã sống ly thân với nhau khoảng hơn 01 năm nay. Trong thời gian qua cả hai anh chị đều không có biện pháp cụ thể nào để thể hiện ý chí anh chị mong muốn hàn gắn lại với nhau, anh chị không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Như vậy chứng tỏ cuộc sống vợ chồng của chị C và anhH là không thể hàn gắn lại được, cuộc sống chung đã không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C đối với anhH là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị C và anhH chung sống với nhau có 02 người con chung tên TAT, sinh ngày 23/6/2016 và TTP, sinh ngày 03/12/2017. Từ lúc chị C và anhH sống ly thân với nhau đến nay thì chị C là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 cháu T vàP. Chị C vẫn đảm bảo cho các cháu học tập bình Tờng như bao đứa trẻ cùng trang lứa khác và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho sựP triển của con. Do đó, để không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của hai cháu T vàP khi đang sống với chị C nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải giao cả 02 người con tên TAT, sinh ngày 23/6/2016 và TTP, sinh ngày 03/12/2017 cho chị C được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là hoàn toàn phù hợp.

Chị Huỳnh Kim C không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thời miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh TTH.

Anh TTH có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Nếu sau này anhH chứng minh được việc chị C nuôi con, nhưng không lo lắng chăm sóc tốt cho cuộc sống của con thì anh có quyền nộp đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Huỳnh Kim C và anh TTH không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Từ những nhận định nêu trên xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Huỳnh Kim C đối với anh TTH; Xử cho chị Huỳnh Kim C được ly hôn với anh TTH.

2/. Về con chung: Giao 02 người con tên TAT, sinh ngày 23/6/2016 và TTP, sinh ngày 03/12/2017 cho chị C được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện tại cháu T vàP đang sống cùng với chị C nên được giữ nguyên.

Chị Huỳnh Kim C không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Tạm thời miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh TTH.

AnhH có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

3/. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

4/. Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Huỳnh Kim C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005685 ngày 13 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện PL, tỉnh BL.

5/. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6; quyền và nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a, 7b; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

6/. Án xử sơ thẩm công khai vắng mặt các đương sự, báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ