vanban.org

Bản án 50/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” của nguyên đơn chị Trần Anh P đối với bị đơn anh Ngô Ngọc T.

Xử cho chị Trần Anh P được ly hôn anh Ngô Ngọc T. Về nuôi con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA 50 28/4/2023 - Trần Anh P - Ngô Ngọc T (Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” của nguyên đơn chị Trần Anh P đối với bị đơn anh Ngô Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28/4/2023
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy T

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoài Đức H

Ông Trần Văn Đ

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Thanh D – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Đặng Vân Hoàng Y – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 568/2022/TLST-HNGĐ ngày 11/11/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Anh P, sinh năm 1991.

Địa chỉ thường trú: Tổ 2, ấp X, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Ngô Ngọc T, sinh năm 1991.

Địa chỉ thường trú: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.

(Chị P, anh T vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai các lời khai tại Tòa nguyên đơn chị Trần Anh P trình bày:

- Chị P và anh Ngô Ngọc T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2006, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn, anh, chị chung sống tại ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Từ khoảng năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không còn lo lắng, chăm sóc cho nhau, anh T thường xuyên sử dụng ma túy đá dẫn đến tinh thần không ổn định.

Do mâu thuẫn đã trầm trọng, chung sống với nhau không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Ngô Ngọc T.

Về con chung: Anh T, chị P chung sống có 01 con chung tên Ngô Trần Quỳnh M, sinh ngày 09/10/2018. Sau khi ly hôn yêu cầu giao con cho ông T nuôi dưỡng, tạm thời tôi không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Chị cam kết không có nợ chung.

Anh Ngô Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đến lần thứ 2 không có lý do, không cung cấp bản khai ý kiến cho Tòa án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phượng; giao con chung cho chị P nuôi dưỡng, tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung chị khai không có nên không xem xét. Về án phí: Buộc chị P phải chịu theo luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tư cách tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Ngọc T, tranh chấp việc nuôi con; anh Tân có địa chỉ cư trú: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai.

[2] Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt đến lần thứ 2 không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị P, anh T có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết, việc kết hôn chị P khai do cả hai tự nguyện nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chị P khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Ngọc T với lý do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, anh Tân thường xuyên sử dụng ma túy đá dẫn đến tinh thần không ổn định.

Xét thấy, Theo lời khai của chị P thì cuộc sống hôn nhân của chị P và anh T đã có mâu thuẫn trầm trọng không thể hòa giải được, vợ chồng không còn yêu thương lẫn nhau. Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh T đến Tòa hòa giải đoàn tụ nhưng anh không chấp hành, cho thấy thái độ bỏ mặc, không tích cực hàn gắn tình cảm, giải quyết mâu thuẫn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P, xử cho chị P được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về nuôi con chung: Qua lời khai của chị P và qua xác minh địa phương xác định chị và anh T có 01 con chung là Phan Thị Tuyết M, sinh ngày 17/11/2007. Chị P yêu cầu được nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, quyền được nuôi dưỡng, giáo dục con chung là quyền, nghĩa vụ của cha mẹ. Tuy nhiên, theo lời trình bày của chị P thì anh T có lối sống không lành mạnh. Ngoài ra, anh T cũng không thực hiện quyền lợi của mình là đến Tòa án trình bày ý kiến của bản thân về vấn đề nuôi dưỡng con chung. Trong khi đó, chị P có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, đủ khả năng kinh tế để nuôi con. Cháu M cũng có nguyện vọng được sống với chị P. Do đó, Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Phan Thị Tuyết M cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn là đảm bảo sự phát triển cho trẻ, phù hợp với các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị P không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị P khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị P phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” của nguyên đơn chị Trần Anh P đối với bị đơn anh Ngô Ngọc T.

Xử cho chị Trần Anh P được ly hôn anh Ngô Ngọc T.

Về nuôi con chung:

Về tài sản chung, nợ chung: Chị P khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí: Chị Trần Anh P phải chịu 300.000 ( ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án Hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0008630 ngày 08 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Đồng Nai, chị P đã nộp xong án phí.

3. Chị P, anh T được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ