vanban.org

Bản án 50/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ H; Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn với ông Nguyễn Xuân T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 50/2023/HNGĐ – ST
Ngày: 22-7-2023
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH – TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quốc Tú

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Vui

2. Ông Võ Đức Thọ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Anh Hùng – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Cao Thanh Nam - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 123/2023/TLST – HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXXST – HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm: 1995

Hộ khẩu thường trú: Tổ 3, ấp 11B, xã Lộc Thiện, huyện Lộc Ninh

Có mặt tại phiên tòa

- Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm: 1986

Hộ khẩu thường trú: Khu phố Ninh Thành, TT Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh

Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H trình bày:

Bà H và ông T là vợ chồng, chúng tôi tự nguyện kết hôn vào năm 2019 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh. Vợ chồng sống Hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, thường xuyên cãi nhau, cuộc sống không Hạnh phúc. Nay bà H xin ly hôn với ông T

- Về con chung: Vợ chồng bà H có 01 người con tên Nguyễn An Nhiên, sinh ngày 17/6/2019. Khi ly hôn bà H xin nuôi người con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Vợ chồng không nhận ai làm con nuôi, hiện tại bà H không mang thai.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về nợ: Không có

Bị đơn ông ông Nguyễn Xuân T vắng mặt có đơn xin vắng mặt. Căn cứ bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Xuân T trình bày:

Ông T và bà H là vợ chồng đã tự nguyện kết hôn vào năm 2019 tại UBND TT Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh. Vợ chồng sống Hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, thường xuyên cãi nhau, cuộc sống không Hạnh phúc. Nay bà H xin ly hôn với ông T thì ông T cũng đồng ý ly hôn với bà H.

- Về con chung: Vợ chồng bà H có 01 người con tên Nguyễn An Nhiên, sinh ngày 17/6/2019. Khi ly hôn bà H xin nuôi người con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con thì ông T cũng đồng ý để bà H trực tiếp nuôi con. Vợ chồng không nhận ai làm con nuôi, hiện tại bà H không mang thai.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về nợ: Không có

+Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

- Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc xác định mối quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn xét xử chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh không có kiến nghị về tố tụng.

- Về nội dung: Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H.

- Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn với ông Nguyễn Xuân T.

- Về con chung: Giao con tên Nguyễn An Nhiên, sinh ngày 17/6/2019 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về pháp luật tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh đề nghị giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Xuân T. Xét thấy ông T có nơi cư trú tại khu phố Ninh Thành, thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh giải quyết là đúng thẩm quyền.

. Về quan hệ hôn nhân: Đối với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy bà H và ông T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 14/8/2019 tại Uỷ ban nhân dân xã thị trấn Lộc Ninh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước nên có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T là hợp pháp.

Đối với yêu cầu xin ly hôn của bà H, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, bà H và ông Thằng đều trình bày vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên cuộc sống hôn nhân không còn Hạnh phúc. Bà H và ông T đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai.

Tại phiên tòa bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và xác định không còn tình cảm với ông T. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án ông T cũng thừa nhận giữa bà H và ông T xảy ra nhiều mâu thuẫn với nhau, do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nay bà H xin ly hôn thì ông T cũng đồng ý ly hôn với bà H.

Như vậy, có căn cứ để xác định tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông T đã trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, cuộc sống chung không còn Hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H. [4]. Về con chung: Bà H và ông T có 01 người con tên Nguyễn An Nhiên, sinh ngày 17/6/2019. Khi ly hôn bà H xin nuôi con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con thì ông T cũng đồng ý để bà H trực tiếp nuôi con. Vợ chồng không nhận ai làm con nuôi, hiện tại bà H không mang thai. Nên giai con cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về tài sản chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy bà H phải chịu số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 39 Bộ luật dân sự;

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ H;

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn với ông Nguyễn Xuân T.

2. Về con chung: Giao con tên Nguyễn An Nhiên, sinh ngày 17/6/2019 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3.Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

6. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí bà H đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh theo biên lai thu tiền số 0010397 ngày 05/4/2023.

7. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ