vanban.org

Bản án 50/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: cho Huỳnh Thị S được ly hôn với Nguyễn Văn T.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 02/2/2016 cho chị S được tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng chị S không yêu cầu. Chị Huỳnh Thị S cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Nguyễn Văn T trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: cho Huỳnh Thị S được ly hôn với Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 24-5-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Hoa Lư.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Phát Triển

Ông Đặng Thanh Cao.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Phát Đạt là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 24 tháng 5 năm 2023 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2023/TLST-HNGĐ, ngày 13/01/2023 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 4 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 282/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 05/352023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Huỳnh Thị S, sinh năm 1996 (có mặt).

Địa chỉ: 786/4, ấp Long Thành A, xã L H, huyện L V, tỉnh Đ T.

2. Bị đơn: , sinh năm 1984 (vắng mặt).

Địa chỉ: 786/4, ấp Long Thành A, xã L H, huyện L V, tỉnh Đ T.

Tạm trú: Nhà trọ Chính Hồng, số 26, Khóm 2, thị trấn L V, huyện L V, tỉnh Đ T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 26/12/2022, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn Huỳnh Thị S trình bày:

* Về hôn nhân:

Chị S và anh T tìm hiểu đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn vào ngày 11/9/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Q huyện T M, tỉnh Đ T. Sống chung thời gian đầu hạnh phúc nhưng đến khoảng đầu năm 2016 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng càng ngày không hợp nhau, anh T thường xuyên đánh đập chị S, không lo chí thú làm ăn chăm sóc cho vợ con. Vì thế chị S không thể sống chung với anh T nên cả hai mặc dù ở chung nhưng nạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai từ năm 2022 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị S yêu cầu Tòa án cho được ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 02/02/2016, Hiện nay đang sống với chị S, chị S yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng.

Về T sản chung: Không có, chị S không yêu cầu giải quyết.

Về nợ khi ly hôn: không có.

Đối với bị đơn Nguyễn Văn T từ khi thụ lý đến ngày xét xử lần hai là ngày 24/5/2023 Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T theo quy định của pháp luật nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do, tuy nhiên anh T có liên lạc bằng điện thoại đến Tòa là không muốn ly hôn nhưng đến nay anh T vẫn không có ý kiến bằng văn bản để phản bác yêu cầu của nguyên đơn.

Tại tường trình ngày 05/5/2023 bé Nguyễn Thị Bích Tuyến có ý kiến được sống với chị Huỳnh Thị S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các T liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Huỳnh Thị S có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa Huỳnh Thị S và Nguyễn Văn T, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”; thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên họp và phiên tòa không có lý do. Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Huỳnh Thị S và Nguyễn Văn T tổ chức đám cưới năm 2005 và đăng ký kết hôn ngày 11/9/2015, tại Ủy ban nhân dân xã M Q, huyện T M, tỉnh Đ T, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình sống chung vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải nhau, hơn nữa anh T không lo lắng chăm sóc gì cho vợ, và đánh đập chị S vì thế chị S và anh T đã không còn quan hệ vợ chồng, nạnh ai nấy sống từ năm 2022 cho đến nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài. Mặc dù, Tòa án đã kiên trì hòa giải nhưng chị S vẫn cương quyết ly hôn với anh T. Đối với anh T từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa anh T vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản bác gì đối với yêu cầu của chị S. Điều đó cho thấy anh T đã từ bỏ cuộc hôn nhân này với chị S, không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của chị S và anh T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được, cho nên việc chị S yêu cầu ly hôn là thỏa mãn các điều kiện theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, vì vậy Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị S là có căn cứ.

[3] Về con chung: Có hai 01 người con là Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 02/02/2016, hiện đang sống với chị S, chị S yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Yêu cầu này của chị S là có cơ sở bởi lẽ, điều này phù hợp với nguyện vọng của Bích Tuyềnt được sống với chị S và phù hợp với thực tế là từ khi xa nhau đến nay con sống chung với chị S được chị S nuôi dưỡng chu đáo, để ổn định cho Nguyễn Thị Bích Tuyền, Hội đồng xét xử cần giao con chung Nguyễn Thị Bích Tuyền, sinh ngày 02/2/2016 cho chị S được tiếp tục nuôi đưỡng. Về cấp dưỡng chị S không yêu cầu anh T cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về T sản chung: chị S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về nợ khi ly hôn: Không có, không xem xét giải quyết.

Anh Nguyễn Văn T từ khi thụ lý vụ án đến nay mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định trong đó có việc thông báo cho anh T biết việc tình trạng T sản chung và nợ khi ly hôn nhưng anh T cũng không có ý kiến hay phản bác yêu cầu của chị S về vấn đề T sản chung và nợ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Nguyên đơn Huỳnh Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân gia đình là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: cho Huỳnh Thị S được ly hôn với Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Bích T, sinh ngày 02/2/2016 cho chị S được tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng chị S không yêu cầu.

Chị Huỳnh Thị S cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Nguyễn Văn T trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn.

3. Về án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm: Huỳnh Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân là 300.000 đồng . Được khấu trừ 300.000 đồng mà Huỳnh Thị S đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số: 0015656, ngày 13/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. (Huỳnh Thị S đã nộp xong).

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/5/2023). Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ