vanban.org

Bản án 50/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Phạm Thanh Q.

Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với ông Phạm Thanh Q. Về nuôi con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Thu H nuôi dưỡng con chung tên Phạm Nguyễn Trúc T, sinh ngày 20/12/2008. Ông Phạm Thanh Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu Hiền "Ly hôn" Phạm Thanh Quan"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Phạm Thanh Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15-6-2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Thu Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bích Phượng;

2. Ông Phạm Văn Thành;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.

Ngày 15 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 90/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1982; Địa chỉ: Số 114, ấp 3, xã P, huyện C, tỉnh L, có mặt.

2. Bị đơn: Ông Phạm Thanh Q, sinh năm: 1974; Địa chỉ: ấp Số 114, ấp 3, xã P, huyện C, tỉnh L, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án như sau:

Bà H và ông Q tổ chức lễ cưới năm 2008. Hôn nhân của vợ chồng bà là do mai mối, sau khi được mai mối vợ chồng bà cũng không tìm hiểu nhau. Vợ chồng bà có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 76, quyển số 01/2008, ngày 23/7/2007. Sau khi cưới nhau, vợ chồng bà sống bên gia đình bà H. Theo bà H thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là mâu thuẫn về kinh tế gia đình, ông Q không phụ bà H các chi phí sinh hoạt gia đình, thu nhập của mỗi người tự sử dụng riêng. Mặc dù bà H có trao đổi với ông Q vấn đề tài chính trong gia đình nhưng vợ chồng không giải quyết được mâu thuẫn. Khi vợ chồng cãi nhau, ông Q còn đánh bà H. Mặc dù bà H và ông Q vẫn còn sống chung nhà nhưng từ nhiều năm nay, hai người mạnh ai nấy sống, không còn Q tâm đến nhau. Bà H nhận thấy không thể duy trì Q hệ hôn nhân với ông Q nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Nguyễn Trúc T, sinh ngày 20/12/2008. Hiện nay cháu T đang do bà H nuôi dưỡng, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T, không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Phạm Thanh Q. Ông Q không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của bà H và cũng không đến Tòa án giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: bà Nguyễn Thị Thu H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phạm Thanh Q có nơi cư trú tại ấp 3, xã P, huyện C, tỉnh L nên Tòa án nhân dân huyện C thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Bị đơn ông Phạm Thanh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Phạm Thanh Q.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Phạm Thanh Q có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 76, quyển số 01/2008, ngày 23/7/2007 nên xác định hôn nhân của vợ chồng là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo bà H thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc được 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là mâu thuẫn về kinh tế gia đình, ông Q không phụ bà H các chi phí sinh hoạt gia đình, thu nhập của mỗi người tự sử dụng riêng. Mặc dù bà H có trao đổi với ông Q vấn đề tài chính trong gia đình nhưng vợ chồng không giải quyết được mâu thuẫn. Khi vợ chồng cãi nhau, ông Q còn đánh bà H. Mặc dù bà H và ông Q vẫn còn sống chung nhà nhưng từ nhiều năm nay, hai người mạnh ai nấy sống, không còn Q tâm đến nhau. Còn về phía ông Q, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng cho ông Q, nhưng ông Q không đến Tòa án tham gia hòa giải, không trình bày ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện của bà H, không đưa ra phương án đoàn tụ. Qua đó, có đủ cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà H và ông Q không còn, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông Q.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Nguyễn Trúc T, sinh ngày 20/12/2008. Bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu T đang do bà H nuôi dưỡng đồng thời cháu T có nguyện vọng mong muốn được sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn nên giao cho bà H nuôi dưỡng cháu T là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con, bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Q không có ý kiến gì về nội dung này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà H trình bày không có, ông Q không có ý kiến gì về nội dung này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Phạm Thanh Q.

Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với ông Phạm Thanh Q.

Về nuôi con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Thu H nuôi dưỡng con chung tên Phạm Nguyễn Trúc T, sinh ngày 20/12/2008. Ông Phạm Thanh Q không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai thu số 0005106 ngày 06 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C sang án phí.

Bản án sơ thẩm, đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ