- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng BIDV và ông PHạm Quốc Kiệt"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V Chi nhánh T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2023/DS-ST Ngày: 23-5-2023 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M, TỈNH T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà : Bà Lê Thị Lương
Các hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Hải
- Ông Đặng Song Hoàn
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Ngọc Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh T
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M tham gia phiên tòa: Bà
Vũ Thị Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 02/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2023, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 03 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2023/QĐST-DS ngày 10 tháng 04 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng V.
Địa chỉ: Tháp BIDV, số 194 A, Phường B, Quận C, Thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức Q, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Xuân X, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng V Chi nhánh T. Theo Quyết định ủy quyền số 963/QĐ- BIDV ngày 25-10-2021.
Địa chỉ: Số 24 W, Phường Y, thành phố K, tỉnh L.
Ông Lê Xuân X ủy quyền lại cho bà Nguyễn Minh N, chức vụ: Phó trưởng phòng – Phòng giao dịch Vũng Tàu - Ngân hàng V Chi nhánh T. Theo Quyết định ủy quyền số 43/UQ-BIDV.BRVT-QLRR ngày 14 - 02- 2023. (có mặt)
Bị đơn: Ông Phạm Quốc S, sinh năm: 1983
Địa chỉ: Số 80 U, Phường I, thành phố M, tỉnh T. (vắng mặt lần 2 không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện lập ngày 30-11-2022, các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn nội dung vụ án như sau:
Ngày 21/08/2020, ông Phạm Quốc S ký với Ngân hàng V Chi nhánh T (sau đây gọi là Ngân hàng V) hợp đồng cấp hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán số 01/2020/2298180/HĐTD ngày 21/08/2020 với số tiền vay là 49.900.000đồng. Thời gian vay 12 tháng; Mục đích vay phục vụ nhu cầu đời sống. Lãi suất trong hạn là 11.5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% của lãi suất trong hạn.
Sau khi ngân hàng giải ngân qua tài khoản của ông S, ông S đã thực hiện trả lãi với số tiền là 2.012.207đồng và không thanh toán tiền gốc cho ngân hang. Ngày 21/8/2021, ông Svi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với ngân hàng.
Tính đến ngày 23/5/2023, bị đơn ông Phạm Quốc S đã sử dụng và nợ số tiền tổng cộng là 71.120.583đồng(Bảy mươi mốt triệu, một trăm hai mươi ngàn, năm trăm tám mươi ba đồng);
Trong đó, nợ gốc là 49.900.000đồng (Bốn mươi chín triệu, chín trăm ngàn đồng); Nợ lãi quá hạn do vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 21.220.583đồng (Hai mươi mốt triệu, hai trăm hai mươi ngàn, năm trăm tám mươi ba đồng). Nay, ngân hàng khởi kiện yêu cầu buộc ông Phạm Quốc S thanh toán số nợ nêu trên.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn ông Phạm Quốc S tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Tham gia phiên tòa xét xử nhưng ông Phạm Quốc S vẫn vắng mặt không có lý do, đồng thời ông Phạm Quốc S không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Điều 48 BLTTDS năm 2015. Phiên tòa xét xử diễn ra đúng thời gian, địa điểm được thông báo. Quá trình xét xử tuân thủ đúng trình tự quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo luật định.
Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; Căn cứ tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn ông Phạm Quốc S vắng mặt nhiều lần không lý do, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M cho rằng phía bị đơn là ông Phạm Quốc S đã ký 01 hợp đồng cấp hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán số 01/2020/2298180/HĐTD ngày 21/08/2020 với số tiền vay là 49.900.000đồng với Ngân hàng V Chi nhánh T, ông Phạm Quốc S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng V Chi nhánh T đã khởi kiện yêu cầu ông Phạm Quốc S hoàn trả toàn bộ số nợ còn thiếu theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng đã ký kết. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Phạm Quốc S phải trả cho ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi, lãi phát sinh tạm tính đến ngày 23/5/2023 là 71.120.583đồng. Ngoài ra ông S còn phải trả cho ngân hàng tiền lãi phát sinh kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Quan hệ tranh chấp:
Ngân hàng V Chi nhánh T và ông Phạm Quốc S có 01 hợp đồng cấp hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán số 01/2020/2298180/HĐTD ngày 21/08/2020 với số tiền vay là 49.900.000đồng, nay có tranh chấp về hợp đồng này nên xác định đây là vụ án dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tại hợp đồng, hợp đồng cấp hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán số 01/2020/2298180/HĐTD ngày 21/08/2020 với số tiền vay là 49.900.000đồng có ghi rõ ông Phạm Quốc S có nơi cư trú tại địa chỉ số 80 Mạc Đĩnh U, Phường I, thành phố M, tỉnh T nên căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh T.
Thời hiệu khởi kiện: Các đương sự không yêu cầu xem xét về thời hiệu khởi kiện. Căn cứ vào khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử không giải quyết về thời hiệu khởi kiện.
. Sự có mặt, vắng mặt của đương sự:
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng trên theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Quốc S thanh toán số tiền gốc và lãi theo hợp đồng cấp hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán số 01/2020/2298180/HĐTD ngày 21/08/2020 với số tiền vay là 49.900.000đồng, Hội đồng xét xử thấy:
Vào ngày 21/08/2020, Ngân hàng V Chi nhánh T và ông Phạm Quốc S ký kết với nhau 01 hợp đồng cấp hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán số 01/2020/2298180/HĐTD ngày 21/08/2020 với số tiền vay là 49.900.000đồng nhằm sử dụng để chi tiêu cho nhu cầu cá nhân và sau đó không thanh toán sao kê nhiều kỳ cho Ngân hàng, lãi suất trong hạn là 11.5%/ tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất sẽ được Ngân hàng V Chi nhánh T quyết định điều chỉnh phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cho vay. Đây là hợp đồng vay tài sản và hợp đồng này thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và quy định của Luật Các tổ chức tín dụng nên có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, buộc các bên tham gia giao dịch phải tuân thủ thực hiện.
Sau khi được cấp hạn mức thấu chi, ông S đã thanh toán cho ngân hàng số tiền lãi là 2.012.207đồng và không thanh toán được số tiền gốc nào cả. Từ ngày 21 tháng 8 năm 2021, ông S không thanh toán gốc và lãi cho ngân hàng vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại Điều 5 của hợp đồng tín dụng.
Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký, phù hợp quy định của các điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên cần chấp nhận. Buộc bị đơn phải trả số tiền còn nợ tính đến ngày 23/5/2023 là 49.900.000đồng (Bốn mươi chin triệu, chin trăm ngàn đồng); Nợ lãi quá hạn do vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 21.220.583đồng (Hai mươi mốt triệu, hai trăm hai mươi ngàn, năm trăm tám mươi ba đồng). Tổng cộng nợ gốc và nợ lãi:71.120.583đồng(Bảy mươi mốt triệu, một trăm hai mươi ngàn, năm trăm tám mươi ba đồng). Kể từ ngày 24/5/2023, ông Phạm Quốc S phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M phát biểu ý kiến việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Phạm Quốc S phải trả cho ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi, lãi phát sinh tạm tính đến ngày 23/5/2023 là 71.120.583đồng. Ngoài ra ông S còn phải trả cho ngân hàng tiền lãi phát sinh kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.556.029đồng.
Đối với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 463, 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 179, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 90 và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V Chi nhánh T.
Buộc ông Phạm Quốc S hoàn trả cho Ngân hàng V Chi nhánh T số tiền tạm tính đến ngày 23/5/2023 tổng cộng là 71.120.583đồng (Bảy mươi mốt triệu, một trăm hai mươi ngàn, năm trăm tám mươi ba đồng), trong đó, nợ gốc là 49.900.000đồng (Bốn mươi chín triệu, chín trăm ngàn đồng); Nợ lãi quá hạn do vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 21.220.583đồng (Hai mươi mốt triệu, hai trăm hai mươi ngàn, năm trăm tám mươi ba đồng).
Ông Phạm Quốc S phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 24/5/2023 cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng.
2.Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Quốc S phải chịu án phí 3.556.029đồng (Ba triệu, năm trăm năm mươi sáu ngàn, không trăm hai mươi chín đồng).
Ngân hàng V Chi nhánh T được nhận lại 1.600.000đồng (Một triệu, sáu trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003720 ngày 29 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh T.
3. Nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng 01/2020/2298180/HĐTD ngày 21/08/2020 của Ngân hàng V Chi nhánh T cho đến khi thanh toán hết nợ nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt quyền kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh T; - VKSND thành phố M; - Chi cục THADS T.P M; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Lê Thị Lương |