vanban.org

Bản án 50/2023/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 24/03/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Áp dụng: Khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

1/ Không chấp nhận kháng cáo củachị Giáp Thị Kh; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 69/2022/DSST ngày 09/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Gi. 2/ Về án phí: Chị Giáp Thị Kh phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm.(xác nhận chị Kh đã nộp đủ theo biên lai thu số 0000974 ngày 27/12/2022 của Chi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? * Áp dụng: Khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2023/DS-PT
Ngày 24 - 3 - 2023
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết

Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Việt Hùng

Bà Nguyễn Thị Hương Giang

- Thư ký phiên tòa:Bà Trần Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Gi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Gi tham gia phiên tòa:

Ông Lương Thất Tùng- Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Gi, tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 24/2023/TLPT-DS ngày 14 tháng 02 năm 2023 về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXPT-DS ngày 13/3/2023giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phan Văn D, sinh năm 1968 (có mặt);

Nơi cư trú: Thôn Hương Th, xã Hương S, huyện Lạng Gi, tỉnh Bắc Gi;

- Bị đơn: Chị Giáp Thị Kh, sinh năm 1981 (có mặt);

Nơi cư trú: Thôn Hương Th, xã Hương S, huyện Lạng Gi, tỉnh Bắc Gi.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh Phan Văn D trình bày: Anh với chị Kh là quan hệ hàng xóm vào ngày 03/8/2018 anh có cho chị Kh vay 60.000.000đ để làm ăn buôn bán, khi vay có viết giấy biên nhận vay tiền, thỏa thuận miệng lãi suất là 2%/ 1 tháng, hẹn đến ngày 03/10/2018 trả hết cả gốc và lãi suất. Đến hẹn chị Kh không trả và từ đó đến nay chị Kh vẫn chưa trả anh được một đồng nào. Nguồn tiền anh cho chị Kh vay là tiền của cá nhân anh, không liên quan gì đến vợ con anh. Nay anh yêu cầu cá nhân chị Kh phải có trách nhiệm trả anh 60.000.000đ tiền gốc và lãi suất theo pháp luật từ khi vay đến ngày xét xử vụ án.

* Bị đơn chị Giáp Thị Kh trình bày:Chị với anh D là quan hệ hàng xóm, chị có vay tiền của anh D nhiều lần, chị không nhớ rõ các lần vay cụ thể, (Việc chị vay tiền của anh D là sử dụng vào mục đích cá nhân của chị, không liên quan gì đến chồng con chị). Các lần vay đều được viết giấy biên nhận vay, có thỏa thuận lãi suất bằng miệng là 3.000đ/một triệu/một ngày. Các lần vay hàng tháng chị chỉ trả được lãi suất, còn không trả được nợ gốc. Trước ngày 03/8/2018 chị có nói rõ với anh D là chị không còn khả năng trả lãi suất, nên chị có nhờ anh D cầm sổ bìa đỏ của gia đình chị ra Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh thị trấn Kép để chị vay 200.000.000đ, sau khi làm thủ tục vay tiền xong, số tiền chị vay 200.000.000đ này đã được giải ngân vào ngày 03/8/2018 chuyển thẳng vào số tài khoản của người nhà anh D (chị không biết số tài khoản đó là của ai). Sau đó chiều cùng ngày 03/8/2018 anh D có gọi chị vào cộng tổng số tiền chị còn nợ anh D để thanh toán cả gốc và lãi suất. Sau khi cộng tổng cả gốc và lãi suất tồn đọng trước đó và cộng thêm cả công làm sổ để vay Ngân hàng, đối trừ 200.000.000đ chị vay Ngân hàng đưa cho anh D, thì chị còn nợ lại anh D 60.000.000đ. Sau đó anh D bảo chị viết lại giấy vay tiền, chính là giấy vay tiền được lưu trong hồ sơ của Tòa án. Sau đó vì khó khăn nên chị có bảo anh D, thì anh D có nói với chị “bao giờ có thì trả dần”. Chữ viết và chữ ký của chị trong giấy vay tiền ngày 03/8/2018 là chữ do tự tay chị viết và ký ra.

Nay anh D khởi kiện yêu cầu chị phải trả anh D 60.000.000đ tiền gốc và lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày 03/8/2018 đến nay. Thì chị không đồng ý vì khi chị vay anh D tính lãi suất vượt quá lãi suất của nhà nước nên chị không còn khả năng để trả.

Với nội dung vụ án trên, tòa án nhân dân huyện Lạng Gi đã quyết định: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn D. Buộc chị Giáp Thị Kh phải có trách nhiệm thanh toán trả anh Phan Văn D 60.000.000đ tiền gốc và 51.263.000đ tiền lãi suất; tổng cộng cả gốc và lãi suất là 111.263.000đ (một trăm mười một triệu hai trăm sáu ba nghìn đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí sơ thẩm, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo cho các bên đương sự. Ngày 21/12/2022 chị Giáp Thị Kh làm đơn kháng cáo bản án.

Tại phiên tòa hôm nay: Anh D có mặt giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị Khgiữ nguyên kháng cáo và trình bày thêm việc chị nợ anh D 60.000.000đ và tự tay viết giấy biên nhận vay tiền ngày 03/8/2018 là đúng, sau đó do chị xin trả dần nên anh D không đòi, đến năm 2022 anh D đòi nhiều lần nhưng chị xin khất để chị trả hết Ngân hàng sau đó chị sẽ trả dần anh D.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, Thẩm phán được phân công giải quyết, các đương sự trong suốt quá giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử: Không chấp nhận kháng cáo của chị Giáp Thị Kh; Giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử.Do kháng cáo không được chấp nhận nên chị Kh phải chịu án phí DSPT theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, phát biểu của kiểm sát viên tại phiên toà.

Xét kháng cáo của chị Kh thì thấy:Xuất phát từ quan hệ quen biếtnên ngày 03/8/2018 anh D có cho chị Kh vay 60.000.000đ để làm ăn buôn bán, khi vay có viết giấy biên nhận vay tiền, thỏa thuận miệng lãi suất là 2%/ 1 tháng, hẹn đến ngày 03/10/2018 trả hết cả gốc và lãi suất. Đến hẹn chị Kh không trả và từ đó đến nay chị Kh vẫn chưa trả anh D được đồng nào. Nay anh D yêu cầu cá nhân chị Kh phải có trách nhiệm trả anh D 60.000.000đ tiền gốc và lãi suất theo quy định của pháp luật từ khi vay đến ngày xét xử vụ án.

Phía bị đơn, chị Giáp Thị Khtại phiên tòa hôm nay xác định việc chị nợ anh D 60.000.000đ và tự tay chị viết và ký vào giấy biên nhận vay tiền ngày 03/8/2018 là đúng, sau đó, do chị xin trả dần nên anh D không đòi, đến năm 2022 anh D đòi nhiều lần nhưng chị xin khất để chị trả hết nợ Ngân hàng sau đó chị sẽ trả dần cho anh D. Nay anh D yêu cầu chị phải trả anh D 60.000.000đ tiền gốc và lãi suất theo quy định của pháp luật từ khi vay đến ngày xét xử vụ án, chị không đồng ý.

HĐXX xét thấy, căn cứ bản gốc giấy vay tiền viết tay do anh Phan Văn D xuất trình, lời khai nhận nợ của chị Kh, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xác định được, do vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên hiện chị Giáp Thị Kh còn nợ anh Phan Văn D 60.000.000đ tiền gốc. Việc vay tiền, viết giấy biên nhận và ký nhận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc của bên nào. Nay anh Phan Văn D yêu cầu chị Giáp Thị Kh phải có trách nhiệm thanh toán trả cho anh Phan Văn D 60.000.000đ tiền gốc và lãi suất theo quy định của pháp luật tính từ ngày vay03/8/2018đến ngày xét xử sơ thẩm là có căn cứ cần chấp nhận. Về lãi suất được tính cụ thể như sau:

- Từ ngày 03/8/2018 đến ngày 03/10/2018 (lãi suất trong hạn).

60.000.000đ x 0,83%/tháng x 2 tháng = 996.000đ.

- Từ ngày 04/10/2018 đến ngày 09/12/2022.

60.000.000đ x 1,67%/tháng x 50 tháng 5 ngày = 50.267.000đ.

Tổng tiền lãi suất là 51.263.000đ.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn D, buộc chị Giáp Thị Kh phải có trách nhiệm thanh toán trả anh Phan Văn D 60.000.000đ tiền gốc và 51.263.000đ tiền lãi suất; tổng cộng cả gốc và lãi suất là 111.263.000đ (một trăm mười một triệu hai trăm sáu ba nghìn đồng) là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm chị Kh cũng không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào khác để bảo vệ quyền lợi của mình nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của chị Kh, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử. Do kháng cáo không được chấp nhận nên chị Giáp Thị Kh phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Áp dụng: Khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.Điều 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:

1/ Không chấp nhận kháng cáo củachị Giáp Thị Kh; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 69/2022/DSST ngày 09/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Gi.

2/ Về án phí: Chị Giáp Thị Kh phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm.(xác nhận chị Kh đã nộp đủ theo biên lai thu số 0000974 ngày 27/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Gi).

Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ