- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh Nh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ C | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2022/HSST Ngày: 12/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ C
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tr
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Ngọc B
2. Bà Nguyễn Thị Mai H
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Tr – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoài Ph – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2022/HSST ngày 30 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 244/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Lê Minh Nh (Cỏ) (có mặt)
Sinh năm 1991; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Cần Thơ; Nghề nghiệp: Không;
Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Nơi cư trú: Số 458/14, khu vực 7, phường An B, quận N, thành phố C.
Họ và tên cha: Lê Văn Thanh H sinh năm 1962 (sống).
Họ và tên mẹ: Lê Thị Kim B sinh năm 1966 (chết).
Anh, chị, em ruột: 01 người, sinh năm 2000.
Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị bắt ngày 16/12/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 giờ 30 phút, ngày 16/12/2021, sau khi xác minh tin báo của người dân, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an quận N, thành phố C kết hợp cùng Công an phường An B đến địa chỉ 458/14, khu vực 7, phường An B, quận N lúc này có Lê Minh Nh, Lê Võ Tuấn A và Nguyễn Chí D đang đứng trước địa chỉ trên. Lực lượng Công an tiến hành khám xét thì phát hiện trên cột sắt (cột sắt băng chuyền tải) cạnh chỗ Nh đứng có 01 khẩu trang y tế bên trong có hơn 03 viên nén màu cam. Nh thừa nhận là ma túy của Nh cất giấu trước đó nên lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật sau: 03 viên nén và 01 phần viên nén màu cam (được để trong khẩu trang y tế cất giấu trên cột sắt chỗ Nh đứng; 01 khẩu trang y tế màu trắng; Tiền Việt Nam 11.000.000 đồng;
Tại Kết luận giám định số: 11/KLGĐ - PC09 ngày 24/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ kết luận: 03 viên nén và 01 phần viên nén màu cam gửi giám định là ma túy, khối lượng 1,6169 gam, loại MDMA;
Quá trình điều tra bị cáo Nh thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo khai nhận 03 viên nén và 01 phần viên nén màu cam Công an thu giữ là ma túy loại thuốc lắc của người bạn của bị cáo tên Ph mua 05 viên mang đến Karaoke trên đường Trần Hưng Đạo để sử dụng cùng bị cáo vào khuya ngày 13/12/2021. Bị cáo và Ph đã sử dụng hết 1,5 viên thuốc lắc. Đến sáng ngày 14/12/2021 bị cáo nhìn thấy còn hơn 03 viên thuốc lắc nên gói vào khẩu trang mang về cất giấu trong kho gạo đối diện nhà bị cáo để sử dụng dần. Đến tối ngày 16/12/2021, bị cáo lấy số ma túy từ kho gạo về để trên cột sắt băng chuyền tải trước nhà, một lúc sau có Lê Võ Tuấn A và Nguyễn Chí D đến đứng nói chuyện cùng bị cáo thì lực lượng Công an kiểm tra, thu giữ số ma túy bị cáo cất giấu để sử dụng cá nhân.
Đối với đối tượng tên Ph mua ma túy cùng bị cáo sử dụng, do bị cáo khai chưa rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Ninh Kiều sẽ xác minh, làm rõ và xử lý theo quy định. Đối với Lê Võ Tuấn A và Nguyễn Chí D qua điều tra, xác minh không liên quan hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKSNK ngày 29 tháng 3 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận N, thành phố C truy tố bị cáo Lê Minh Nh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Số tiền Việt Nam 11.000.000 đồng là tài sản cá nhân của bị cáo, bị cáo yêu cầu được nhận lại. Đối với 01 khẩu trang y tế màu trắng của bị cáo, đã qua sử dụng bị cáo đồng ý tiêu hủy.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo tội danh và điều khoản đã nêu trong cáo trạng số 44/CT-VKSNK ngày 29 tháng 3 năm 2022. Đủ cơ sở xác định lúc 22 giờ 30 phút, ngày 16/12/2021 bị cáo đã có hành tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 1,6169 gam, loại MDMA nhằm mục đích sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, kết luận giám định và các biên bản có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo ý thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 11/KLGĐ-PC09 ngày 24/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố C; 01 khẩu trang y tế màu trắng đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo tiền Việt Nam: 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan Công an và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án. Viện kiểm sát nhân dân quận N truy tố bị cáo tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận những chứng cứ buộc tội của Viện kiểm sát và đề nghị của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 16/12/2021 bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại địa chỉ 458/14, khu vực 7, phường An B, quận N thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ cùng tang vật. Mục đích bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng. Nguồn gốc số ma túy bị cáo khai nhận lấy của đối tượng tên Ph (không rõ lai lịch) mang về cất giấu để bị cáo sử dụng.
Tại kết luận giám định số: 11/KLGĐ - PC09 ngày 24/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố C đã kết luận: Mẫu gửi giám định được niêm phong có chữ ký của Lê Minh Nh là ma túy, khối lượng 1,6169 gam, loại MDMA.
Xét thấy bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực pháp luật, hiểu biết tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng nhưng thực hiện hành tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Pháp luật nghiêm cấm mọi việc tàng trữ, vận chuyển và mua bán đối với các chất ma túy. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý thể hiện ý thức pháp luật kém. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Do đó, cần một hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo. Đồng thời cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cân nhắc, xem xét đến tính chất, mức độ thực hiện tội phạm và hậu quả xảy ra cũng như nhân thân của bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Gói niêm phong số 11/KLGĐ - PC09 ngày 24/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố C là hàng cấm nên phải tịch thu tiêu hủy.
- Tịch thu tiêu hủy đối với khẩu trang y tế màu trắng, đã qua sử dụng. Bị cáo sử dụng để gói các viên ma túy.
- Đối với tiền Việt Nam 11.000.000 đồng thu giữ của bị cáo. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa làm rõ là tài sản cá nhân của bị cáo. Bị cáo yêu cầu được nhận lại nên trả lại cho bị cáo số tiền 11.000.000 đồng theo biên lai số 0001385 ngày 30/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận N.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Minh Nh 02 năm tù giam, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/12/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: Gói niêm phong số 11/KLGĐ - PC09 ngày 24/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố C.
- Tịch thu tiêu hủy đối với khẩu trang y tế màu trắng, của bị cáo đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo số tiền bị cáo số tiền 11.000.000 đồng theo biên lai số 0001385 ngày 30/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận N.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/3/2022 giữa Công an quận N và Chi cục Thi hành dân sự N).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Minh Nh phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố C; - VKSND quận N; - Công an quận N; - Chi cục THADS quận N; - Sở Tư pháp thành phố C; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Trinh |