vanban.org

Bản án 50/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội Tuyên án 19/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt Nguyễn Thị H 10 (Mười) tháng tù. Tổng H hình phạt với Bản án số 28/2022/HS – ST ngày 25/01/2022 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, TP. Hà Nội xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hình phạt chung cho cả hai Bản án buộc bị cáo phải chấp hành là 19 (Mười chín) … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2022/HSST
Ngày: 19/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và bà Nguyễn Thị Vân

-Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: Ông Trịnh Minh Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2022/HSST ngày 04/7/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2022/QĐXXST-HS ngày 14/7/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2022/HSST – QĐ ngày 28/7/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị H - sinh năm: 2000, Nơi ĐKHKTT và nơi ở: thôn CH, xã LH, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 12/12; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N – sinh năm: 1976 và con bà Vũ thị L – SN: 1975; chồng :Đỗ Quốc B – sinh năm: 1997; con: 01 con, sinh năm:2019; Tiền án: ngày 25/01/2022, bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 18 tháng về tội “ Trộm cắp tài sản”. Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/04/2022 đến ngày 11/5/2022 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. HIện đang thi hành “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

+ Chị Nguyễn Thị Năm – sinh năm: 1972 (Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn PLH, xã PL, huyện UH, TP. Hà Nội

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Đỗ Quốc B – sinh năm: 1997 (Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn CH, xã LH, huyện UH, TP. Hà Nội

- Người làm chứng:

+ Bà Nguyễn Thị K – sinh năm: 1950 (Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn PLH, xã PL, huyện UH, TP. Hà Nội

+ Anh Trần Xuân Đ – sinh năm: 1994 (Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn NX, xã VT, huyện UH, TP. Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 25/4/2022, Nguyễn Thị H, SN 2000 ở thôn CH, xã LH, huyện Ứng Hòa, điều khiển xe mô tô Honda Lead BKS 29Y3-283.27 từ phường Phú Lương, quận Hà Đông để về nhà tại xã LH, huyện Ứng Hòa. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày khi H điều khiển xe mô tô Honda Lead BKS 29Y3- 283.27 đến khu vực đội 3, thôn PLH, xã Phù Lưu, huyện Ứng Hòa thấy nhà chị Nguyễn Thị Năm tổ chức đám cưới cho con trai. H nảy sinh ý định vào xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản để chi tiêu cá nhân, H dừng xe mô tô BKS 29Y3- 283.27 cạnh nơi để xe đám cưới rồi đi vào trong nhà chị Năm, khi đi vào H gặp chị Năm, chị Năm hỏi H, H nói dối là bạn chú rể, sau đó H đi vào trong phòng khách thấy không có ai, H tiếp tục đi vào khu vực cầu thang và đi xuống tầng hầm thấy có 01 phòng ngủ của nhà chị Năm không khóa cửa, H đi vào trong phòng và khóa cửa lại rồi lục lọi tìm tài sản để trộm cắp, H phát hiện thấy 01 hòm tôn đựng phong bì mừng đám cưới khóa để dưới đất, H đến dùng tay cậy nắp lên và thò tay vào lấy được 07 phong bì và 03 cọc tiền trị giá 5.860.000 đồng, sau khi lấy xong H chưa kịp bỏ trốn thì chị Năm từ nhà trên xuống phòng ngủ tầng hầm phát hiện H đang có hành vi trộm cắp tài sản liền hô hoán và bắt giữ H rồi báo Công an xã Phù Lưu. Hồi 22 giờ 25 phút cùng ngày Công an xã PL đưa H về trụ sở Công an xã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển đến Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứng Hòa để điều tra theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ:

-02 cọc tiền mệnh giá 10.000 đồng có 196 tờ = 1.960.000 đồng.

- 01 cọc tiền mệnh giá 20.000 đồng có 100 tờ = 2.000.000 đồng.

- 07 phong bì mừng đám cưới tổng số 1.900.000 đồng.

Số tài sản thu giữ của H mang đi từ nhà:

-08 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng = 800.000 đồng.

- 07 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng = 350.000 đồng.

- 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng = 20.000 đồng.

- 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng = 20.000 đồng.

- 01 xe mô tô Honda Lead BKS 29Y3- 283.27 màu trắng sữa không gương đã cũ, đã qua sử dụng.

Với hành vi nên trên cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 04/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố Nguyễn Thị H về tội: “Trộm cắp tài sản” qui định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 điều 173 BLHS; Điểm h khoản 1 điều 52; Điểm n,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Điều 38 BLHS tuyên phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù. Được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/4/2022 đến ngày 11/5/2022.

Áp dụng Điều 56, khoản 5 Điều 65 BLHS, tổng H hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án số 28/HS -ST ngày 25/01/2022 của TAND quận Hà Đông. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt thi hành án được trừ thời hạn đã tạm giữ, tạm giam.

Về hình phạt bổ sung: Không.

Về án phí: Căn cứ điều 135, 136 BLTTHS; NQ 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 án phí HSST theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.

Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời nhận tội của bị cáo phù H lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thập H pháp có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Khoảng 21 giờ 40 ngày 25/4/2022, Nguyễn Thị H đã có hành vi lén lút trộm cắp 02 cọc tiền mệnh giá 10.000 đồng có 196 tờ; 01 cọc tiền mệnh giá 20.000 đồng có 100 tờ; 07 phong bì mừng đám cưới có số tiền 1.900.000 đồng, tổng giá trị tài sản là 5.86.000 đồng tại phòng ngủ dưới tầng hầm của nhà chị Nguyễn Thị Năm tại đội 3, thôn PLH, xã Phù Lưu, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.

Do vậy, hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới có thể có tác dụng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội trong thời gian thử thách của án treo thuộc trường H tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 BLHS

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và có quan điểm không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên vấn đề trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.

Về vật chứng: Đối với 5.860.000 đồng mà H đã trộm cắp cho bà Nguyễn Thị Năm là tài sản H pháp của gia đình bà Năm. Nên ngày 10/06/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện Ứng Hòa ra quyết định xử lý vật chứng số 36 trả lại 5.860.000 đồng cho bà Năm là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 29Y3-283.27 là tài sản chung của 2 vợ chồng H, tối 25/4/2022 H sử dụng xe mô tô trên đi từ quận Hà Đông về nhà xã LH có việc riêng, khi đi qua nhà bà Nguyễn Thị Năm thấy có đám cưới nên mới H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, H dừng xe bên ngoài đường và đi bộ vào trộm cắp. Vì vậy ngày 10/06/2022, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứng Hòa ra quyết định xử lý vật chứng số 37 trả lại chiếc xe mô tô BKS 29Y3-283.27, chiếc túi sách có quai đeo màu trắng sữa, chiếc điện thoại iphone 11 promax và 1.180.000 đồng cho bị can Nguyễn Thị H là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với chiếc hòm tôn đựng tiền mừng đám cưới bị cong vênh do H dùng tay cậy mép để tay thò vào bên trong hòm lấy tiền và phong bì, do hư hỏng nhẹ nên chị Nguyễn Thị Năm từ chối định giá hư hỏng và không yêu cầu H phải bồi thường.

Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 BLTTHS,Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 BLTTHS năm 2015

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Điều 106; Điều 135; Kho¶n 2 §iÒu 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án;

1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2. Xử phạt Nguyễn Thị H 10 (Mười) tháng tù. Tổng H hình phạt với Bản án số 28/2022/HS – ST ngày 25/01/2022 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, TP. Hà Nội xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Hình phạt chung cho cả hai Bản án buộc bị cáo phải chấp hành là 19 (Mười chín) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt để thi hành án được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 25/4/2022 đến ngày 11/5/2022.

3. Về xử lý vật chứng: Vật chứng đã được xử lý ở giai đoạn điều tra đúng theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết H lệ.

Cỡ chữ