vanban.org

Bản án 50/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 11/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn R phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn R 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 23/6/2021). Về xử lý vật chứng. Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo gồm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn R - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn R phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ R
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2022/HS-ST
Ngày: 11-02-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Văn Thậm

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Chung Kim Sang;

- Ông Nguyễn Quốc Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 248/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Văn R, sinh ngày 10/8/1984 tại thành phố R, Kiên Giang.

Nơi ĐKTT và chỗ ở: Số 576 đường M, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ, sinh năm 1935 và bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1939; anh chị ruột: Có 09 người, lớn nhất sinh năm 1959, nhỏ nhất sinh năm 1978; vợ: Đoàn Thị Ngọc T, sinh năm 1985; con: Có 02 người, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Chưa.

Nhân thân: Ngày 29/6/2009, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục trong thời hạn 12 tháng theo quyết định số 1509 về hành vi gây rối trật tự công cộng.

Ngày 23/6/2021, bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị tạm giữ. Đến ngày 01/7/2021, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R khởi tố, tạm giam theo Lệnh số 90. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố R. Bị cáo có mặt tại tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Thái Thị Mỹ H, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 29 đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

2. Bùi Thanh L, sinh năm 1976 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 195/15 đường M, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang

* Người chứng kiến:

1. Quách Văn Q, sinh năm 1969 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 174/37A đường Đ, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

2. Lý Anh D, sinh năm 1956 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 81 đường H, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn R sử dụng ma túy từ khoảng đầu năm 2020, nguồn ma túy để sử dụng R mua của nhiều người không rõ nhân thân và được một người tên T (chưa rõ nhân thân) cho R sử dụng cùng.

Thông qua mối quan hệ xã hội, R biết được người tên Tèo ở khu vực đường Sư Minh K, phường V, thành phố R có bán ma túy. Vào khoảng 14 giờ ngày 23/6/2021, Trần Văn R điều khiển xe mô tô biển số 68M5-4818 (xe R mượn của ông Bùi Thanh L, ông L không biết R sử dụng xe để đi mua ma túy) đến đường Sư Minh K, phường V, thành phố R tìm Tèo để mua ma túy. Khi gặp Tèo ở khu vực gần khách sạn Phương Trinh trên đường Sư Minh K, R hỏi mua 400.000 đồng ma túy, Tèo đồng ý. Sau khi nhận tiền từ R, Tèo điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave (không rõ biển số, màu sắc) chạy đi, khoảng 10 phút sau Tèo quay lại đưa cho R 01 (một) bịch ma túy được để trong khẩu trang y tế màu xanh-trắng, R cất giấu số ma túy trên vào trong túi quần sọt (bên phải, phía trước) R đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Khi đến khu vực trước siêu thị Co.op Mart trên đường B, phường V, thành phố R thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R phối hợp với Công an phường V phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.

Ngày 01/7/2021, Trần Văn R bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R khởi tố, tạm giam để phục vụ điều tra.

Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo Trần Văn R có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

- 01 (một) khẩu trang y tế bên trong có 01 (một) bịch nylon trong suốt hàn kín chứa các hạt chất rắn, màu trắng, dạng tinh thể không đồng nhất, đã được niêm phong;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu MI, màu xanh-trắng, số IMEI 1: 886638104224523, IMEI 2: 866381043224531, đã qua sử dụng;

- 01 (một) xe mô tô mang biển kiểm soát 68M5-4818; số máy: VMVT3AD011892; số khung: RLGKA12CD9D011892, đã qua sử dụng.

* Tại bản kết luận giám định số 692/KL-KTHS, ngày 30/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận: Các hạt chất rắn màu trắng, dạng tinh thể không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon hàn kín, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamin. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,3261 gam.

Methamphetamin là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT323, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định các Danh mục chất ma túy và tiền chất.

* Bản Cáo trạng số 11/CT-VKSRG ngày 16/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Trần Văn R về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

Bị cáo Trần Văn R đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn R mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) khẩu trang y tế màu trắng-xanh, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 692/2021, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng N, người chứng kiến niêm phong Trần Tuấn Đ và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 181 ngày 05/11/2021 và số 186 ngày 16/11/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R.

+ Cơ quan điều tra đã trao trả: 01 (một) điện thoại di động hiệu MI, màu xanh-trắng cho Trần Văn R do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và trả lại cho ông Bùi Thanh Long 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Attilavictor mang biển kiểm soát 68M5-4818; số máy: VMVT3AD011892; số khung: RLGKA12CD9D011892 do ông Long không biết việc Trần Văn R sử dụng tài sản của mình làm phương tiện đi mua ma túy.

(Các tài sản trên được trao trả theo Quyết định sử lý vật chứng số 156 ngày 16/11/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R).

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thành phố R, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Trần Văn R đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào lúc 16 giờ ngày 23/6/2021, Trần Văn R bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R phối hợp với Công an phường V bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại khu vực trước siêu thị Co.op Mart trên đường B, phường V, thành phố R thu giữ trong túi quần sọt, bên phải phía trước R đang mặc trên người 01 (một) khẩu trang y tế bên trong có 01 (một) bịch nylon trong suốt hàn kín chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể không đồng nhất, qua giám định là ma túy loại Metha phetamine, có khối lượng là 0,3261 gam.

Từ những chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Trần Văn R đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như đã viện dẫn nêu trên.

Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo ý thức được việc sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, bất kỳ ai vi phạm đều bị xử lý nghiêm. Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn R là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất về ma túy. Bản thân bị cáo có đủ năng lực biết rất rõ tác hại của ma túy ảnh hưởng như thế nào đối với sức khỏe, tinh thần của con người và cũng là tiền đề tạo ra nhiều tệ nạn xấu, đặc biệt là dễ dẫn đến nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến bản thân bị cáo nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung. Vì vậy Nhà nước luôn chú trọng việc đấu tranh phòng ngừa và xử lý nghiêm đối với loại tội phạm này. Nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật cố ý lao vào con đường phạm tội của mình. Do đó, cần xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng đối với tội trạng của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, cũng đồng thời ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Văn R không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn; đồng thời bị cáo cũng không đảm nhiệm chức vụ, không hành nghề cũng như không làm công việc gì nhất định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về Xử lý vật chứng. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo gồm:

+ 01 (một) khẩu trang y tế màu trắng-xanh, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 692/2021, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng N, người chứng kiến niêm phong Trần Tuấn Đ và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 181 ngày 05/11/2021 và số 186 ngày 16/11/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R và theo Quyết định chuyển vật chứng số 07/QĐ-VKS ngày 16/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R.

+ Đối với việc trả lại 01 (một) điện thoại di động hiệu MI, màu xanh-trắng cho Trần Văn R do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và trả lại cho ông Bùi Thanh L 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Attilavictor mang biển kiểm soát 68M5-4818; số máy: VMVT3AD011892; số khung: RLGKA12CD9D011892 do ông Long không biết việc Trần Văn R sử dụng tài sản của mình làm phương tiện đi mua ma túy. Tại phiên Tòa, bị cáo xác nhận đã nhận lại tài sản trên xong và không yêu cầu giải quyết. Xét thấy việc Cơ quan điều tra trả lại đồ vật nêu trên là đúng quy định pháp luật nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Về các vấn đề khác của vụ án: Đối với người Tèo, Tuấn và những đối tượng khác (chưa rõ nhân thân) đã có hành vi bán và cho Trần Văn R ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn R phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Trần Văn R 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 23/6/2021).

2. Về xử lý vật chứng. Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo gồm:

+ 01 (một) khẩu trang y tế màu trắng-xanh, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 692/2021, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hoàng N, người chứng kiến niêm phong Trần Tuấn Đ và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 181 ngày 05/11/2021 và số 186 ngày 16/11/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R và theo Quyết định chuyển vật chứng số 07/QĐ-VKS ngày 16/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 11/02/2022). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ