- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ TỈNH HƢNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------------------------- Bản án số: 50/2022/HS-ST Ngày 29/4/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƢNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đại và ông Đặng Đức Thành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở UBND xã Tân Lập, huyện Yên Mỹ, Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ mợ phiên tòa lưu động xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2022 đối với:
1. Bị cáo: Họ và tên: Lò Văn H, sinh năm 1983. Tên gọi khác: không. Giới tính: Nam. Sinh trú quán: bản Á, xã Ch, huyện M, tỉnh Sơn La. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ trước khi phạm tội: Không. Trình độ học vấn: 0/12. Con ông Lò Văn Kh, sinh năm 1953. Nghề nghiệp: Trồng Trọt và bà Lò Thị Ph, sinh năm 1956. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ tư. Vợ: Lò Thị D, sinh năm 1986. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: không. Bị can bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2021, bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Hương: Bà Lê Thị Thanh Hiên - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
2. Ngƣời làm chứng:
Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Ông Đỗ Văn X, sinh năm 1963 (vắng mặt)
Chị Lò Thị D, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Đều có địa chỉ: thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 6 giờ 15 phút ngày 15/12/2021, bị cáo Lò Văn H đi bộ một mình từ phòng trọ ở thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên đi ra khu vực cánh đồng Đống V, thôn L, xã T, huyện Y mua ma túy để sử dụng. Khi đi ra đến nơi, H gặp một nam thanh niên không biết tên, địa chỉ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng không rõ biển số, H biết người này bán ma túy nên tiến lại hỏi mua 200.000 đồng ma túy, người này đồng ý. Sau khi cầm 200.000đồng của H thì người thanh niên lấy từ trong túi áo khoác 01 gói được bọc bên ngoài bằng tờ lịch, bên trong có 02 gói giấy nhỏ chứa ma túy đưa cho H. H cầm gói ma túy bằng tay phải rồi đi bộ về phía phòng trọ của mình để sử dụng, khi đi được khoảng 10m thấy Công an xã Tân Lập do sợ hãi, nên H đã vứt gói ma túy xuống nên đất ngay tại vị trí H đang đứng thì bị Công an xã T, huyệnY đã phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tại nền đất vị trí H đang đứng 01 gói gấy bằng tờ lịch, bên trong có 02 gói giấy màu trắng có kẻ sọc xanh, đều có kích thước (2x1)cm bên trong đều chứa chất dạng cục bột màu trắng(được niêm phong ký hiệu M1); Thu tại túi quần bên trái 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu xám bạc, có ốp lưng màu đen, thu tại túi quần bên phải 01 chiếc xilanh nhựa chưa qua sử dụng. H khai nhận chất dạng cục bột màu trắng bị thu giữ là ma túy loại Heroine. Cùng ngày Công an xã Tân Lập bàn giao hồ sơ, đối tượng bị bắt cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mỹ giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 15/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mỹ đã tiến hành khám xét khẩn cấp phòng trọ của Lò Văn H ở thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.
Tại Bản kết luận giám định số 05/MT-PC09 ngày 18/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột, trong niêm phong ký hiệu M1 có tổng khối lượng 0,560g là ma túy, loại Heroine. Hoàn lại 0,534g ma úy, loại Heroine được niêm phong giao cho Công an huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên quản lý.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ ngoài màu đen xám, có ốp lưng màu đen là tài sản của Hương không sử dụng vào việc phạm tội;
01 xi lanh nhựa chưa qua sử dụng mục đích để bị cáo sử dụng ma túy
Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch, nên không có căn cứ để xử lý.
Bản cáo trạng số 42/CT-VKS-YM ngày 04/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo Lò Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lò Văn H khai nhận: Bị cáo là người nghiện ma túy, số tiền mua ma túy do bị cáo đi làm thuê mà có, mục đích mua ma túy về để sử dụng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ tham gia phiên tòa.
Sau khi phân tích, đánh giá lời khai của bị cáo tại phiên tòa, tính chất mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo H từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2022; Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng, quyền kháng cáo.
Trợ giúp viên pháp lý đề nghị: Bị cáo là người dân tộc, không được đi học, nên nhận thức có nhiều hạn chế, bị cáo sinh sống tại vùng kinh tế khó khăn, đề nghị HĐXX xét xử bị cáo mức án nhẹ nhất, đề nghị miễn án phí cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng. Kiểm sát viên và bị cáo đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt người làm chứng. HĐXX xét thấy, những người vắng mặt đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử vụ án, do vậy HĐXX căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt người làm chứng.
Hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Mỹ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang bút lục 39 – 40, biên bản niêm phong đồ vật bút lục 41, biên bản hỏi cung bị can từ bút lục 84 – 89 và phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên HĐXX xét thấy có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 6 giờ 20 phút ngày 15 tháng 12 năm 2021, tại khu vực đường bê tông cánh đồng Đống V, thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên Lò Văn H có hành vi mua chất ma túy mục đích để sử dụng. Kết luận giám định số 05/MT-PC09 ngày 18/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận ma túy bị cáo đã mua là Heroine, có khối lượng 0,560g. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ ma túy để sử dụng là trái pháp luật, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện; gây mất trật tự trị an xã hội của địa phương; là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nhưng không tu chí làm ăn, xây dựng kinh tế gia đình mà sử dụng ma túy một cách thường xuyên, gây phá tán kinh tế của bản thân, gia đình; bị cáo cũng nhận thức được tác hại rất lớn của việc sử dụng ma túy đối với thể chất, trí tuệ của người sử dụng nhưng vẫn không từ bỏ mà tiếp tục sử dụng trong thời gian dài. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh, dành cho bị cáo một hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo không được học tập, giáo dục của nhà trường, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không nguồn thu nhập ổn định, không có tài sản tích lũy, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về biện pháp tƣ pháp:
Đối với phong bì hoàn mẫu vật sau giám định bên trong có 0,534g ma túy, loại Heroine là chất cấm lưu hành, tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01 xilanh kim tiêm được bịt một đầu bằng nắp nhựa, trong niêm phong ký hiệu M3 không còn giá trị sử dụng, tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J2 Prime, vỏ màu đen xám trong niêm phong ký hiệu M2 không liên quan đến hành vi phạm tội, nên hoàn trả bị cáo.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc, sinh sống vùng kinh tế khó khăn, là người nghiện ma túy, không có công việc làm ổn định, không có tài sản tích lũy, có đơn xin miễn giảm án phí, nên miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
2/ Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
3/ Xử phạt: Bị cáo Lò Văn H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/12/2021.
4/ Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
5/ Về biện pháp tƣ pháp: Áp dụng Điều điểm a, b khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu vật sau giám định bên trong có 0,534g ma túy, loại Heroine và 01 xilanh kim tiêm được bịt một đầu bằng nắp nhựa.
Hoàn trả bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J2 Prime, vỏ màu đen xám.
Đặc điểm, tình trạng chi tiết các vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 39/QĐ-VKS-YM ngày 04/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ và Biên bản bàn giao vật chứng giữa cơ quan điều tra Công an huyện Yên Mỹ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Yên Mỹ ngày 25/4/2022.
6/ Về án phí: Áp dụng điểm đ Điều 12 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn H.
7/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Hưng Yên; - VKS, CA, THA huyện Yên Mỹ; - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên; - Chi cục THA DS huyện Yên Mỹ; - UBND xã Ch, huyện M, tỉnh Sơn La; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Ngô Xuân Quỳnh |