vanban.org

Bản án 50/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 24/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Thủy T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy 1,7416 gam ma túy là Methamphetamin (hoàn lại sau giám định); 01 chai nhựa màu vàng; 01 ống hút bằng nhựa màu đỏ; 01 ống thủy tinh (Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản về việc giao nhận vậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Thủy T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Thủy T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 55 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY ĐỨC
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2022/HS-ST
Ngày 24 - 11 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Nhu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Minh và ông Lưu Ngọc Khoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy là Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 48/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Đặng Thủy T, sinh năm 1999 tại tỉnh Bình Phước. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước; tạm trú: Bon Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Đăng Thanh T và bà Đoàn Thị M; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2022, hiện đang bị tạm giam – Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Thiên B, sinh năm 1995 – Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn 4, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông.

- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2003 – Vắng mặt.

Địa chỉ: Bon Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Thủy T là đối tượng nghiện ma túy nên ngày 18/6/2022, Triều đến khu vực ngã ba thuộc bon Điêng Đu, xã Đăk Ngo, huyện Tuy Đức mua ma túy của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch, với số tiền là 1.500.000 đồng. Sau khi mua ma túy về thì T đã sử dụng khoảng ba lần.

Sáng ngày 20/6/2022 Nguyễn Thiên B gọi điện cho Đặng Thủy T nhờ mua ma túy về sử dụng nhưng T không liên hệ với người bán ma túy nên không mua được ma túy. Sau đó, T nhắn tin cho B nội dung không mua được ma túy, vào chơi ma túy với T thì vào. Khoảng 16 giờ cùng ngày Nguyễn Văn H đến nhà T chơi, cùng lúc B gọi cho Hoàng hỏi trong nhà T có ma túy không để B vào thì H trả lời là có. Sau đó, T nói với H chờ B vào rồi cùng sử dụng ma túy H đồng ý. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày B đến nhà T, sau khi B vào nhà thì T nói H đóng cửa lại để sử dụng ma túy. Đặng Thủy T chỉ cho H lấy dụng cụ sử dụng ma túy dưới gầm phản gỗ lên, còn T lấy ma túy trong 01 gói zip đổ vào nỏ thủy tinh rồi cả ba T, H, B cùng sử dụng. Trong lúc đang sử dụng ma túy B nói với T bán gói ma túy còn lại trên phản gỗ cho B với giá 2.000.000 đồng. T không đồng ý nên B nói với T để lại 01 nửa với giá 1.000.000 đồng, đồng thời B bỏ 1.000.000 đồng xuống phản gỗ. T chưa đồng ý bán thì bị lực lượng Công an huyện Tuy Đức phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại hiện trường gồm 01 gói Zip màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng; số tiền 1.000.000 đồng ; 01 chai nhựa màu vàng; 01 ống hút bằng nhựa màu đỏ; 01 ống thủy tinh.

Tại biên bản xét nghiệm nhanh chất ma túy ngày 20/6/2022 có kết quả: Nguyễn Văn Hoàng, Nguyễn Thiên B và Đặng Thủy T đều dương tính với ma túy.

Tại bản kết luận giám định số: 116/KLMT-PC09, ngày 24/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận:

- Tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói zipper màu trắng, hàn kín được niêm phong trong bì thư thứ nhất gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng mẫu là 1,7956 gam, là Methamphetamin (hoàn lại sau giám định 1,7416 gam);

- Chất cặn màu nâu bám dính trong 01 nỏ thủy tinh được niêm phong trong phong bì thư thứ hai gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng mẫu là 0,0145 gam; là Methamphetamin (đã sử dụng hết sau giám định).

Cáo trạng số: 52/CTr-VKS ngày 04/11/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo Đặng Thủy T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại Cơ quan điều tra và thừa nhận Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi xem xét các chứng cứ buộc tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Thủy T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt từ 09 năm đến 10 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/6/2022.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 1,7416 gam ma túy là Methamphetamin (hoàn lại sau giám định) 01 chai nhựa màu vàng; 01 ống hút bằng nhựa màu đỏ; 01 ống thủy tinh.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng của Nguyễn Thiên B sử dụng vào mục đích mua ma túy.

Căn cứ điểm khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức trả lại 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone X màu trắng; 01 chiếc điện thoại di động cảm ứng, màu xanh, nhãn hiệu Oppo cho Nguyễn Văn H và Đặng Thủy T là chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đặng Thủy T quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức tách ra tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Thiên B và Nguyễn Văn H là đối tượng sử dụng ma túy cùng Đặng Thủy T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức đã lập hồ sơ để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo rất hối hận và không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, thể hiện: Vào khoảng 18 giờ ngày 20/6/2022, tại nhà của Đặng Thủy T ở bon Điêng Đu, xã Đắk Ngo, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông, Đặng Thủy T đã có hành vi cung cấp công cụ, phương tiện và ma túy cho Nguyễn Thiên B và Nguyễn Văn H để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy dưới hình thức hít thì bị Công an huyện Tuy Đức bắt quả tang. Theo kết quả giám định chất cặn màu nâu bám dính trong 01 nỏ thủy tinh là chất ma túy, có khối lượng mẫu là 0,0145 gam; là Methamphetamin. Kết quả xét nghiệm nhanh chất ma túy ngày 20/6/2022 đối với Nguyễn Văn H, Nguyễn Thiên B, Đặng Thủy T thì đều dương tính với ma túy. Ngoài ra, còn thu giữ của Đặng Thủy T 01 gói ma túy, có khối lượng mẫu là 1,7956 gam, là Methamphetamin (hoàn lại sau giám định 1,7416 gam). Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Đặng Thủy T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Tại điểm c khoảng 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c)…Methamphetamine có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam;

Tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b. Đối với 02 người trở lên;

Xét tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý của Nhà nước về trao đổi các chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được hành vi tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do ý thức coi thường pháp luật, chỉ vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, việc sử dụng chất ma túy gây hủy hoại sức khỏe của con người, là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác nên cần xử phạt nghiêm để đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước.

Về hình phạt: Từ những phân tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Bị cáo phạm hai tội là tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên cần áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt của hai tội.

Về vật chứng vụ án: Đối với 1,7416 gam ma túy là Methamphetamin (hoàn lại sau giám định); 01 chai nhựa màu vàng; 01 ống hút bằng nhựa màu đỏ; 01 ống thủy tinh không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 1.000.000 đồng của Nguyễn Thiên B sử dụng vào mục đích mua ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng hiệu Iphone X màu trắng; 01 chiếc điện thoại di động cảm ứng, màu xanh, nhãn hiệu Oppo không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức trả lại cho Nguyễn Văn H và Đặng Thủy T là chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ cần chấp nhận.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức tách ra tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Thiên B, Nguyễn Văn H là người sử dụng ma túy cùng bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức đã lập hồ sơ để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo làm nông, thu nhập không ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức tại phiên tòa là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Thủy T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Thủy T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Thủy T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Đặng Thủy T phải chấp hành hình phạt là 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/6/2022.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 1,7416 gam ma túy là Methamphetamin (hoàn lại sau giám định); 01 chai nhựa màu vàng; 01 ống hút bằng nhựa màu đỏ; 01 ống thủy tinh (Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/11/2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức).

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng (Theo Lệnh thanh toán ngày 15/7/2022 của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Đắk Nông – Phòng giao dịch Tuy Đức)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đặng Thủy T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hay bản án được niêm yết.

Cỡ chữ