- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn Q - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU TỈNH LC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2022/HS-ST Ngày: 17-5-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU, TỈNH LC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tòng Văn Đại
Ông Đinh Xuân Thủy
- Thư ký phiên toà: Bà Lã Thu Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện TU, tỉnh LC.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, tỉnh LC tham gia phiên toà: Ông La Văn Xôm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TU, tỉnh LC xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2022/TLST- HS ngày 06 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2022/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đoàn Văn Q; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/9/19xx tại huyện TU, tỉnh LC;
Nơi cư trú: Bản NB, xã MK, huyện TU, tỉnh LC; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Văn N, sinh năm 19xx và bà Phạm Thị H, sinh năm 19xx; Có vợ là Lường Thị P, sinh năm 19xx (Đã ly hôn) và có 01 con; Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 25/12/2007, Đoàn Văn Q bị Toà án nhân dân huyện TU, tỉnh LC áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự xử phạt 03 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Ngày 24/4/2011, Đoàn Văn Q bị Toà án nhân dân huyện TU, tỉnh LC áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xoá án tích đối với hai bản án nêu trên.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ hồi 10 giờ 50 phút ngày 07/01/2022, tạm giam từ ngày 14/01/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện TU, tỉnh LC. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Văn Q là người nghiện chất ma túy. Khoảng 08 giờ sáng ngày 07/01/2022, Đoàn Văn Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25T1-077.90 đi từ nhà lên bản NT, xã PT, huyện TU, tỉnh LC, mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Tại bản NT, Đoàn Văn Q gặp và mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ lai lịch 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 50.000 đồng. Mua được Heroine, Đoàn Văn Q cất giấu vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô quay về. Hồi 09 giờ 40 phút cùng ngày, khi Đoàn Văn Q đi đến địa phận Bản NB, xã MK thì bị lực lượng Công an xã MK phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, vật chứng thu giữ của Đoàn Văn Q là 01 gói Heroine có khối lượng 0,10 gam và 01 xe mô tô biển kiểm soát 25T1-077.90. Ngay sau đó, lực lượng Công an xã MK đã thông báo bắt người phạm tội quả tang, bàn giao người bị bắt, vật chứng và tài liệu liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TU giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 07/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TU đã tiến hành trưng cầu người giám định Tư pháp để mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Đoàn Văn Q gửi giám định. Tại bản Kết luận giám định tư pháp số 19/KLGĐ ngày 07/01/2022 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Đoàn Văn Q có khối lượng là 0,10 gam. Tại bản Kết luận giám định số 108/GĐ-KTHS ngày 11/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LC kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Ngày 14/01/2022, Đoàn Văn Q bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TU khởi tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 0,04 gam Heroine; 01 mảnh nilon màu xanh, 01 phong bì niêm phong ban đầu; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 25T1 – 077.90 thu giữ của Đoàn Văn Q hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện TU, tỉnh LC.
Bản cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 05/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TU tỉnh LC truy tố bị cáo Đoàn Văn Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, tỉnh LC giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Văn Q từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 07/01/2022. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong bên trong đựng 0,04 gam Heroine; 01 phong bì Công an huyện TU bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô, nhãn hiệu nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 25T1 – 077.90, số khung 080852, số máy 080859 thu giữ của Đoàn Văn Q.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề nghị miễn cho bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Đoàn Văn Q khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TU, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 07/01/2022, tại bản NT, xã PT, huyện TU, Đoàn Văn Q đã có hành vi mua trái phép 01 gói Heroine của một người không quen biết với giá 50.000 đồng, mục đích để sử dụng. Mua được Heroine, Đoàn Văn Q cất giấu vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô quay về. Hồi 09 giờ 40 phút cùng ngày, khi Đoàn Văn Q đi đến địa phận Bản NB, xã MK thì bị lực lượng Công an xã MK phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, vật chứng thu giữ của Đoàn Văn Q là 01 gói Heroine có khối lượng 0,10 gam và 01 xe mô tô biển kiểm soát 25T1-077.90. Ngày 14/01/2022, Đoàn Văn Q bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TU khởi tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo Đoàn Văn Q là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi tàng trữ trái phép 0,10 gam Heroine, mục đích để sử dụng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TU truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do vậy cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Đoàn Văn Q sinh ra tại huyện TU, tỉnh LC, trưởng thành kết hôn với chị Lường Thị P và có 01 con. Bị cáo nghiện chất ma tuý, có nhân thân xấu. Các năm 2007, 2011 bị cáo đã bị Toà án nhân dân huyện TU, tỉnh LC xử phạt lần lượt về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy’, “Tàng trữ trái phép chấ ma túy” . Mặc dù đã chấp hành xong bản án đã được xoá án tích nhưng bị cáo đã không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cho thấy thái độ coi thường pháp luật của bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đoàn Văn Q đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo nghề nghiệp trồng trọt, thu nhập không ổn định, gia đình thuộc hộ cận nghèo. Do đó, Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng còn lại của vụ án là 0,04 gam Heroine là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy. Đối với 01 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy. Đối với chiếc xe mô tô hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 25T1 – 077.90, số khung 080852, số máy 080859 quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo, là phương tiện bị cáo dùng để đi mua ma tuý về sử dụng nên cần tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước.
Như vậy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí. Do đó, Hội đồng xét xử miễn cho bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo Đoàn Văn Q để đảm bảo thi hành án.
Các vấn đề khác: Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Đoàn Văn Q khai mua của một người không biết tên, tuổi, nhân thân, lai lịch. Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Q 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 07/01/2022.
[2] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong bên trong đựng 0,04 gam Heroine; 01 phong bì Công an huyện TU bên trong đựng 01 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô, nhãn hiệu nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 25T1 – 077.90, số khung 080852, số máy 080859 thu giữ của Đoàn Văn Q.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08 tháng 4 năm 2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TU và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TU, tỉnh LC).
[3] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn cho bị cáo Đoàn Văn Q 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân cấp trên./.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh LC; - VKSND tỉnh LC; - Sở tư pháp tỉnh LC; - VKSND huyện TU; - Chi cục THADS TU; - CQĐT, CQTHAHS huyện TU; - UBND xã MK; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA ĐÃ KÝ Quàng Thị Phƣơng |