vanban.org

Bản án 50/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Bùi Hùng V, Hoàng Văn T, Trương Văn T2, Ngọ Quang Ph, Nguyễn Hành Tr1 phạm tội “Đánh bạc”.

Về điều luật áp dụng và mức hình phạt: 1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Hùng V + đp - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Bùi Hùng V, Hoàng Văn T, Trương Văn T2, Ngọ Quang Ph, Nguyễn Hành Tr1 phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ GIÁO
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2022/HS-ST
Ngày 16/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng;

Ông Phạm Xuân Hào.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quang Dương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Kim Thị Giàu- Kiểm sát viên

Trong các ngày 27 tháng 7 và ngày 16 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2022/TLST - HS ngày 12 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Hùng V, sinh năm 1984 tại Vnh Phúc; nơi cư trú: Tổ 6, ấp B H, xã A B, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Th, sinh năm 1957 và bà Đỗ Thị Ng, sinh năm 1962; bị cáo vợ Trần Thị Thanh Ng, sinh năm 1987; có 01 người con, sinh năm 2006; tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị cáo Bùi Hùng V bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/02/2022, đến ngày 13/02/2022 được trả tự do. Bị cáo tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Hoàng Văn T, sinh năm 1990 tại Hà Tĩnh; nơi cư trú: Tổ 2, ấp Cà Na, xã A B, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Cạo mủ; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T sinh năm 1956 (đã chết) và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1958; bị cáo có vợ Vương Thị Hải X, sinh năm 1995, có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: Không, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 31/10/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 04 năm tù vê tội Cố ý gây thương tích, Hoàng Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngày 12/01/2012 bị Tòa án tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm xử phạt 04 năm tù về tội Cố ý gây thương tích, chấp hành xong hình phạt vào tháng 8/2013 (đã xóa án tích).

Bị cáo Hoàng Văn T bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/02/2022, đến ngày 13/02/2022 được trả tự do. Bị cáo tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên toà.

3. Họ và tên: Trương Văn T2, sinh năm 1990 tại Vnh Phúc; nơi cư trú: Tổ 3, ấp Cà Na, xã A B, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Cạo mủ; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn L, sinh năm 1968 và bà Đặng Thị H, sinh năm 1968; bị cáo có vợ Võ Thị H, sinh năm 1995, có 02 người con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị cáo Trương Văn T2 bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/02/2022, đến ngày 13/02/2022 được trả tự do. Bị cáo tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên toà.

4. Họ và tên: Ngọ Quang Ph, sinh năm 1991 tại Thái Nguyên; nơi cư trú: Ấp 9, xã Tân Lập, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngọ Văn Nam, sinh năm 1966; con bà Lưu Thị Huệ, sinh năm 1973; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thu Kh, sinh năm 1993; có 02 người con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị cáo Ngọ Quang Ph bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/02/2022, đến ngày 13/02/2022 được trả tự do. Bị cáo tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên toà.

5. Họ và tên: Nguyễn Hành Tr1, sinh năm 1990 tại Hà Tĩnh; nơi cư trú: Ấp Bình Tiến, xã A B, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Tiến, sinh năm 1967 và bà Trần Thị Hòa, sinh năm 1967; tiền án, tiền sự: Không. tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị cáo Nguyễn Hành Tr1 bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/02/2022, đến ngày 13/02/2022 được trả tự do. Bị cáo tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Lê Thanh S, sinh năm 1994; vắng mặt

Nơi cư trú: Ấp Bình Hòa, xã A B, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

2/ Bà Nguyễn Thu Kh, sinh năm 1993; có đơn xin vắng mặt

Nơi cư trú: Ấp 9, xã T, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước

3/ Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1985; vắng mặt

Nơi cư trú: Ấp Bình Thắng, xã A B, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

- Người làm chứng:

1/ Ông Đinh Văn Th2; vắng mặt

2/ Ông Đặng Văn Tr4; có đơn xin vắng mặt

3/ Ông Nguyễn Văn T; có mặt

4/ Ông Võ Văn T2; vắng mặt

5/ Ông Nguyễn Đình Ph; vắng mặt

6/ Ông Bùi Văn C; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 06/02/2022, Bùi Hùng V điều khiển xe mô tô biển số 61F1-xxx.xx, Hoàng Văn T điều khiển xe mô tô biển số 61F1-xxx.xy, Trương Văn T2 điều khiển xe mô tô biển số 61F1-xxx.yx đến nhà Đinh Văn Th2 ở ấp Bình Hòa, xã A B, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương để chúc tết. Tại đây, V thấy trên bàn ghế đá bên hông của nhà Thắng có bộ bài 52 lá nên rủ Tân, T2 đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức bài cào tố thì tất cả đều đồng ý. Lúc này, Ngọ Quang Ph điều khiển xe ô tô biển số 93A-xxx.aa, Nguyễn Hành Tr1 điều khiển xe mô tô biển số 61F1-aaa.xx đến nhà Th để chúc tết, thấy V, T2, T đang đánh bạc thắng thua bằng tiền nên Ph, Tr1 cũng vào tham gia đánh bạc cùng.

Hình thức đánh bài như sau: Qui ước các lá bài có chữ A (át) tính là một điểm, bài có hình chữ J, Q, K tính là mười điểm hoặc 0 điểm, lá bài 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 mỗi lá có số điểm tương ứng với con số đó, ba lá bài liên tiếp nhau không cần cùng chất như A, 2, 3 hoặc 2,3,4 gọi là “liêng”, ba quân bài giống nhau như A,A,A; 2,2,2 gọi là “Sáp”, bài có J, Q, K gọi là “ba tây”, lấy bộ bài tây 52 lá chia đều cho mỗi người chơi 03 lá bài, tổng điểm của ba lá bài tính hàng đơn vị trong trường hợp lớn hơn 9, bài được so sánh như sau: sáp lớn nhất, sau đó đến liêng và cuối cùng tổng điểm 03 lá bài. Khi đặt cược mỗi người sẽ đặt số tiền 50.000 đồng gọi là tiền đường, mức cược cho mỗi lần tố từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng. Sau khi chia bài người chia bài sẽ được quyền tố hoặc úp bài đầu tiên rồi đến người bên phải của mình liên tiếp đến người cuối cùng, ván chơi kết thúc khi không ai tố thêm, tất cả người chơi sẽ so điểm bài với nhau, bài ai lớn nhất sẽ thắng, người thắng ván trước sẽ được chia bài cho ván tiếp theo. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an xã A B phối hợp với lực lượng Công an huyện Phú Giáo phát hiện bắt quả tang, thu giữ:

- Số tiền tại chiếu bạc 3.400.000 đồng;

- 06 bộ bài tây, trong đó 02 bộ bài tây đã qua sử dụng;

- Thu giữ trên người của Bùi Hùng V số tiền 6.800.000 đồng;

- Thu giữ trên người của Hoàng Văn T số tiền 3.200.000 đồng;

- Thu giữ trên người của Ngọ Quang Ph số tiền 2.000.000 đồng;

- Thu giữ trên người của Trương Văn T2 số tiền 5.800.000 đồng;

- Thu giữ trên người của Nguyễn Hành Tr1 số tiền 9.000.000 đồng;

- 01(một) xe mô tô biển số 61F1-xxx.yx;

- 01(một) xe mô tô biển số 61F1-xxx.xy;

- 01 (một) xe mô tô Honda Dream biển số 61F1-xxx.xx;

- 01(một) xe mô tô biển số 61F1-aaa.xx;

- 01 (một) xe ô tô hiệu Ford FVEREST biển số 93A-xxx.aa.

Quá Tr1 điều tra xác định:

1. Bùi Hùng V mang theo số tiền 8.700.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Khi bắt quả tang thu giữ trên người V số tiền 6.800.000 đồng.

2. Hoàng Văn T mang theo số tiền 3.700.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Khi bắt quả tang thu giữ trên người Tân số tiền 3.200.000 đồng.

3. Ngọ Quang Ph mang theo số tiền 2.800.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Khi bắt quả tang thu giữ trên người Ph số tiền 2.000.000 đồng.

4. Nguyễn Hành Tr1 mang theo số tiền 9.200.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Khi bắt quả tang thu giữ trên người Tr1 số tiền 9.000.000 đồng.

5. Trương Văn T2 mang theo số tiền 5.800.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Khi bắt quả tang thu giữ trên người T2 số tiền 5.800.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền mà các bị cáo Bùi Hùng V, Trương Văn T2, Nguyễn Hành Tr1, Hoàng Văn T, Ngọ Quang Ph sử dụng vào mục đích đánh bạc là 30.200.000 đồng (ba mươi triệu hai trăm nghìn đồng).

Tại Bản cáo trạng số 39/CT-VKSPG ngày 09/5/2022 truy tố các bị cáo Bùi Hùng V, Hoàng Văn T, Trương Văn T2, Ngọ Quang Ph, Nguyễn Hành Tr1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo Bùi Hùng V, Hoàng Văn T, Trương Văn T2, Ngọ Quang Ph, Nguyễn Hành Tr1 trình bày: Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 06/02/2022, tại nhà ông Đinh Văn Th2 thuộc ấp Bình Hòa, xã A B, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, các bị cáo đã có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền với tổng số tiền là 30.200.000 đồng thì bị lực lượng Công an xã A B phát hiện bắt quả tang.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu lời luận tội đối với các bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố các bị cáo phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị áp dụng

Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Hùng V số tiền từ 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Văn T2 số tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngọ Quang Ph số tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hành Tr1 số tiền từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng

Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 18 tháng đến 20 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/02/2022 đến ngày 13/02/2022, không khấu trừ thu nhập do hoàn cảnh kinh tế khó khăn.

Hình phạt bổ sung: Không.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX tuyên:

+ Tịch thu tiêu huỷ: 06 bộ bài tây, trong đó 02 bộ bàu tây đã qua sử dụng, 04 bộ bài tây chưa qua sử dụng.

+ Sung vào ngân sách Nhà nước: 30.200.000 đồng.

Trong phần tranh luận các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thống nhất tội danh, mức hình phạt, không tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng của các bị cáo Bùi Hùng V, Hoàng Văn T, Trương Văn T2, Ngọ Quang Ph, Nguyễn Hành Tr1: Các bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, các bị cáo ăn năn hối cải nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, trong quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã cung cấp lời khai và sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên HĐXX căn cứ vào Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại phiên toà.

Tại phiên toà, các bị cáo Bùi Hùng V, Hoàng Văn T, Trương Văn T2, Ngọ Quang Ph, Nguyễn Hành Tr1 khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 06/02/2022, tại nhà ông Đinh Văn Th2 thuộc ấp Bình Hòa, xã A B, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, các bị cáo đã có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền với tổng số tiền là 30.200.000 đồng thì bị lực lượng Công an xã A B, huyện Phú Giáo phát hiện bắt quả tang.

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tang vật của vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận các bị cáo Bùi Hùng V, Hoàng Văn T, Trương Văn T2, Ngọ Quang Ph, Nguyễn Hành Tr1 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 39/CT-VKSPG ngày 09/5/2022 của VKSND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự.

Về nhận thức, các bị cáo biết hành vi đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 30.200.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Hành vi đánh bạc là một tệ nạn xã hội, xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội. Bản thân các bị cáo là những người có sức khoẻ, có gia đình và công việc ổn định, lẽ ra các bị cáo phải biết chăm lo làm ăn nuôi sống bản thân và gia đình nhưng các bị cáo lại phạm tội. Hành vi của các bị cáo không những ảnh hưởng đến an ninh trật tự ở địa phương mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

HĐXX xét thấy, đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, bị cáo V phạm tội với vai trò là người rủ rê lôi kéo các bị cáo khác vào tham gia đánh bạc, các bị cáo còn lại giữ vai trò là người thực hành tích cực. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo V mức án cao hơn các bị cáo khác và áp dụng mức hình phạt đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau:

+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Bùi Hùng V, Trương Văn T2, Ngọ Quang Ph, Nguyễn Hành Tr1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Tân hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra bị cáo T2 có ông ngoại là người có công cách mạng được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo V, Ph có ông nội là người có công với cách mạng được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, các bị cáo V, T2, Ph, Tr1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng. Ngoài ra, các bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc không bắt các bị cáo đi chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, Do đó, HĐXX áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ răn đe, giáo dục đối với các bị cáo, không làm ảnh hưởng xấu đến công tác phòng chống tội phạm chung trong xã hội

Riêng bị cáo Tân có nhân thân xấu, ngày 12/01/2012 bị Tòa án tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm xử phạt 04 năm tù về tội Cố ý gây thương tích, chấp hành xong hình phạt vào tháng 8/2013, bị cáo đã được xóa án tích. Tuy nhiên, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị bệnh thận, bệnh lao phổi đang điều trị tại bệnh viện, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội nên HĐXX quyết định cho bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự, cũng đủ giáo dục răn đe bị cáo và không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Xét mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên HĐXX chấp nhận.

Ý kiến, lời nói sau cùng của các bị cáo về tội danh, về hình phạt là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung:

Xét điều kiện, nhân thân của các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về việc xử lý vật chứng:

+ 06 bộ bài tây là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng HĐXX xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

+ Số tiền 30.200.000 đồng là tiền dùng vào việc phạm tội nên HĐXX cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

+ 01 (một) xe mô tô biển số 61F1 - xxx.yx do Lê Thanh S, sinh năm 1994, nơi cư trú: Ấp Bình Hòa, xã A B, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu. Ngày 26/01/2022, ông Sang có cho bị cáo Trương Văn T2 mượn xe mô tô trên làm phương tiện đi lại, việc bị cáo T2 điều khiển xe mô tô trên đi chúc tết và tham gia đánh bạc ông Sang không biết. Ngày 08/4/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển số 61F1-xxx.yx cho Lê Thanh S. Ông Sang đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì Viện kiểm sát không đặt ra xem xét nên HĐXX không đề cập đến.

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển số 61F1 - xxx.xx do Nguyễn Văn T3, sinh năm 1985, nơi cư trú: Ấp Bình Thắng, xã A B, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu. Ngày 20/01/2022, Thành cho bị cáo Bùi Hùng V mượn xe mô tô trên làm phương tiện đi lại, việc bị cáo V điều khiển xe mô tô đến nhà Đinh Văn Th2 chơi và tham gia đánh bạc ông Thành không biết. Do đó, ngày 08/4/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho ông Thành. Ông Thành đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì Viện kiểm sát không đặt ra xem xét nên HĐXX không đề cập đến.

+ 01 (một) xe mô tô biển số 61F1 - aaa.xx do bị cáo Nguyễn Hành Tr1 đứng tên chủ sở hữu. Ngày 06/02/2022, bị cáo Tr1 điều khiển xe mô tô trên đến nhà Đinh Văn Th2 để chúc tết và tham gia đánh bạc. Do đó, ngày 08/4/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú giáo ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho bị cáo Tr1 Viện kiểm sát không đặt ra xem xét nên HĐXX không đề cập đến.

+ 01 (một) xe mô tô biển số 61F1 - xxx.xy do bị cáo Hoàng Văn T đứng tên chủ sở hữu, không liên quan đến việc phạm tội. Ngày 08/4/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe biển số 61F1- xxx.xy cho bị cáo Hoàng Văn T Viện kiểm sát không đặt ra xem xét nên HĐXX không đề cập đến.

+ 01 (một) xe ô tô hiệu Ford EVEREST biển số 93A-xxx.aa do Nguyễn Thu Kh (vợ của bị cáo Ngọ Quang Ph), sinh năm 1993, cư trú tại: ấp 9, xã Tân Lập, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đứng tên chủ sở hữu. Ngày 06/02/2022, bị cáo Ph điều khiển xe ô tô trên đi chúc tết và tham gia đánh bạc, Khuyên không biết. Do đó, ngày 24/02/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe ô tô trên cho bà Khuyên, Khuyên nhận lại tài sản và không có ý kiến gì Viện kiểm sát không đặt ra xem xét nên HĐXX không đề cập đến.

Đối với Đinh Văn Th2, khi bị cáo Bùi Hùng V đến nhà chúc tết nhìn thấy có sẵn bộ bài tây 52 lá trên bàn đá bên hông nhà, bị cáo V tự ý lấy bài rủ Hoàng Văn T, Trương Văn T2, Ngọ Quang Ph, Nguyễn Hành Tr1 cùng đánh bạc. Lúc này, Thắng ở phía sau nhà cho gà ăn nên không biết các bị cáo đánh bạc. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đinh Văn Th2, Viện kiểm sát không đặt ra xem xét nên HĐXX không đề cập đến.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Bùi Hùng V, Hoàng Văn T, Trương Văn T2, Ngọ Quang Ph, Nguyễn Hành Tr1 phạm tội “Đánh bạc”.

1. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

1.1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Bùi Hùng V số tiền 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).

1.2. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 36, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ được khấu trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 06/02/2022 đến ngày 13/02/2022. Bị cáo còn phải chấp hành là 17 tháng 6 ngày, kể từ ngày tuyên án (16/8/2022). Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Giao bị cáo Hoàng Văn T cho Uỷ ban nhân dân xã A B, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương giám sát và giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã A B, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Bị cáo Tân còn phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

1.3. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trương Văn T2 số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

1.4. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản , khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Ngọ Quang Ph số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

1.5. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 35, Điều 58, của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hành Tr1 số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 30.200.000 đ (ba mươi triệu hai trăm nghìn đồng);

- Tịch thu tiêu huỷ: 06 (sáu) bộ bài tây, trong đó 02 (hai) bộ bài đã qua sử dụng, 04 (bốn) bộ bài chưa qua sử dụng.

(Theo Giấy ủy nhiệm chi của Công an huyện Phú Giáo, đơn vị nhận tiền Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo ngày 11/5/2022 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/5/2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Giáo với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:

Buộc các bị cáo Bùi Hùng V, Hoàng Văn T, Trương Văn T2, Ngọ Quang Ph, Nguyễn Hành Tr1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ