- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2022/TLST - HS ngày 29/6/2022 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2022/HS - ST Ngày: 20/7/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Trần Anh Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Minh Đức và ông Nguyễn Đức Long.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Giang Yên – Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tấn – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20/7/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2022/TLST - HS ngày 29/6/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2022/QĐXXST - HS ngày 07/7/2022 đối với bị cáo:
Đỗ Văn T, sinh năm 1981; giới tính: Nam; nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú trước khi bị bắt, tạm giữ, tạm giam: Thôn P, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn: Không; con ông Đỗ Văn T1 và bà Dương Thị S; có vợ là Nguyễn Thị Hồng N và 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. Đặc điểm nhân thân: Ngày 16/8/2018 TAND huyện V, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS, ngày 14/5/2019 chấp hành xong hình phạt và quyết định khác của bản án. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/5/2022, chuyển tạm giam từ ngày 04/6/2022; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên khoảng 15 giờ ngày 26/5/2022, bị cáo Đỗ Văn T đi bộ từ nhà ra ngoài đường rồi đi nhờ xe mô tô của một người thanh niên không quen biết chở sang khu vực cầu B thuộc xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định để mua Heroine về sử dụng. Tại đây bị cáo T đã mua của một người thanh niên không quen biết đang đứng ở lề đường 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau đó T lại đi nhờ xe mô tô của một người thanh niên không quen biết chở về nhà. Khi về gần đến nhà, T xuống xe đi bộ. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày khi đang đi bộ tại đoạn đường thuộc thôn P, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam; T bị lực lượng Công an huyện B phối hợp cùng Công an xã A yêu cầu kiểm tra. T tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục đang cầm trong lòng bàn tay trái và khai nhận đó là Heroine vừa mua để sử dụng. Lực lượng Công an đưa Toàn về trụ sở UBND xã A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng là 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT.
Ngày 26/5/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã ra quyết định trưng cầu giám định chất bột màu trắng dạng cục bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng, thu giữ của Đỗ Văn T được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu QT để xác định loại, khối lượng chất ma túy. Tại Bản kết luận giám định về ma túy số 732/KL-KTHS ngày 27/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: “Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 (một) gói giấy bạc màu trắng, trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu QT gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu QT: 0,278 gam”.
Tại Cáo trạng số 55/CT - VKS - MT ngày 28/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam đã truy tố Đỗ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định.
Tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung vụ án đã nêu ở trên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về các quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện B; Viện kiểm sát nhân dân huyện B và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo không có khiếu nại gì về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng.
Về tội danh: Hành vi tàng trữ trái phép 0,278 gam ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Đỗ Văn T bị lực lượng Công an huyện B bắt quả tang vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 26/5/2022 tại đoạn đường thuộc thôn P, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, bố đẻ bị cáo được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì” được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; vi phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, đã từng bị xử phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện cải tạo bản thân; nay lại phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” do vậy Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Hội đồng xét xử xét cũng xem xét đến nhân thân, hoàn cảnh gia đình và lượng ma túy bị cáo tàng trữ để quyết định mức hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Xét tại biên bản xác minh tài sản của Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã xác định bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Xét số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành do vậy cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.
Các tình tiết khác liên quan đến vụ án: Tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án không đủ căn cứ để xác định được nguồn gốc số Heroine, đối tượng bán Heroine và 02 người cho cho T đi nhờ xe mô tô ngày 26/5/2022 để xem xét, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14.
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (ngày 26/5/2022).
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong có số 732/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định. Vật chứng được xác định theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/6/2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B.
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Văn T phải nộp 200.000 đồng.
Án xử công khai; báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện B; - Công an huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - UBND xã A; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ và văn phòng. | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đặng Trần Anh Dũng (Đã ký) |