- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thế Anh - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, khoản1) Điều 175; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2022/HS-PT Ngày: 20 - 6 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Ông Tạ Duy Ước
- Các Thẩm phán:
Ông Trần Quang Cường
Ông Bùi Văn Tuấn
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Phạm Quỳnh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2022, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2022/TLPT-HS ngày 11 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo Phạm Thế A do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2022/HS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Thế A. sinh ngày 30 tháng 4 năm 1984, tại thành phố Hải Phòng. Nơi cư trú: thôn Phong Quang, xã Đ, huyện KT, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn Vẻ và bà: Vũ Thị Hưng, vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 24/11/2021, bị Công an huyện Hải Hà xử phạt về hành vi cố ý gây thương tích cho người khác; bị bắt truy nã ngày 21/8/2021 hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Bị hại: anh Bùi Văn L, sinh năm 1977; nơi cư trú: xã Tuy Lộc, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Bùi Văn L, sinh năm 1977, trú tại xã Tuy Lộc, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, làm nghề buôn bán lợn, từ tháng 7/2017, anh Lắm quen biết Phạm Thế A. Ngày 13/7/2017, anh Lắm và Thế Anh thỏa thuận qua điện thoại việc anh Lắm bán cho Thế Anh 70 con lợn giá 38.000 đồng/01kg, sau khi giao hàng sẽ thanh toán tiền mặt ngay.
Khoảng trưa ngày 13/7/2017 anh Lắm cùng anh Nguyễn Công Xuân (lái xe), sinh năm 1971 và anh Nguyễn Công Nga, sinh năm 1984, cùng trú tại xã Tuy Lộc, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ chở 70 con lợn bằng xe ô tô tải biển kiểm soát (BKS) 19C-083.25 từ tỉnh Hòa Bình đến huyện Hải Hà để giao bán cho Thế Anh như đã thỏa thuận. Cùng ngày Thế Anh liên lạc với anh Phạm Trí Thành, sinh năm 1982, trú tại thôn 4, xã Quảng Minh, huyện Hải Hà, là người buôn bán lợn và thống nhất sẽ bán lại toàn bộ số lợn trên cho anh Thành tại trạm cân xã Quảng Thành, huyện Hải Hà. Do đang bận đi giao hàng ở tỉnh Yên Bái nên anh Thành liên lạc với anh Phạm Ngọc Điều, sinh năm 1980, để thỏa thuận bán lại 70 con lợn trên cho anh Điều, để tiện xe anh Điều bảo Thành bán thêm 20 con lợn nữa.
Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 14/7/2017, anh Lắm chở lợn đến huyện Hải Hà thì Thế Anh đi xe ô tô con màu trắng không rõ biển kiểm soát cùng Huy và Việt (là bạn của Thế Anh, không rõ lai lịch địa chỉ) ra đón và dẫn đến trạm cân xã Quảng Thành, huyện Hải Hà để cân lợn và giao nhận hàng. Sau khi cân 70 con lợn có tổng khối lượng 7.560 kg, anh Lắm giao toàn bộ số lợn này cho Thế Anh. Sau đó Thế Anh cùng Hoàng Đức Thiện, sinh năm 1987 (là người làm thuê cho anh Thành) chuyển 70 con lợn mua của anh Lắm và 20 con lợn của Thiện chở đến lên xe ô tô tải BKS 18C-055.91 để bán cho anh Điều. Sau khi mua bán xong, anh Điều thanh toán tiền mặt khoảng 310.000.000 đồng cho Thiện để cầm về đưa cho chị Phạm Thị Hợp, sinh năm 1986, trú tại thôn 4, xã Quảng Minh, huyện Hải Hà (là vợ của anh Thành).
Khoảng 03 giờ ngày 14/7/2017, Thế Anh liên lạc với Nguyễn Thị Yến, sinh năm 1979, trú tại thôn Bắc, xã Phú Hải, huyện Hải Hà (Yến chung sống như vợ chồng với Thế Anh) bảo Yến đi đến nhà chị Hợp để lấy tiền bán lợn (vì trước đó Thế Anh và Yến đã đến nhà vợ chồng Thành – Hợp chơi nên quen biết nhau) sau đó Yến đến nhà chị Hợp lấy khoảng 270.000.000 đồng mang đến khu vực cầu Hà Cối đưa cho Huy để Huy mang về để đưa cho Thế Anh.
Sau khi giao nhận hàng tại trạm cân xong, anh Lắm rất nhiều lần yêu cầu Thế Anh thanh toán tiền mặt như đã thỏa thuận trước là 287.280.000 đồng nhưng Thế Anh từ chối thanh toán và có thủ đoạn gian dối lấy lý do chủ hàng chưa thanh toán tiền và nói dối đưa anh Lắm đi lòng vòng trong đêm tìm chủ hàng lấy tiền, nhằm chiếm đoạt tài sản. Đến ngày 27/9/2017 anh Lắm đến cơ quan Công an huyện Hải Hà trình báo sự việc. Ngày 29/01/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Hải Hà, đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Thế A, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự, do bị can bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Đến ngày 21/8/2021, Phạm Thế A bị bắt theo lệnh truy nã tại huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
Tại bản Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hải Hà ngày 29/01/2018 kết luận: 70 con lợn của anh Lắm có tổng khối lượng là 7.560kg, tại thời điểm tháng 7/2017 có giá trị là 257.040.000 đ (hai trăm năm bảy triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).
Quá trình điều tra ban đầu Thế Anh khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, sau đó chối tội không có mục đích chiếm đoạt tiền của anh Lắm, Thế Anh chỉ là trung gian giới thiệu để ông Lắm mua bán lợn với anh Thành. Thế Anh đã tác động chị Yến khắc phục hậu quả cho anh Lắm được số tiền 41.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 11/2022/HS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, đã quyết định Căn cứ: khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 175, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Thế A 05 (năm ) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/8/2021.
Ngoài ra Tòa án còn buộc bị cáo phải trả lại cho bị hại số tiền 216.040.000đ, quyết định án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 13 tháng 4 năm 2022 bị cáo Phạm Thế A làm đơn kháng cáo cho rằng nội dung trong bản án có rất nhiều điều không đúng với thực tế, yêu cầu Tòa án phúc thẩm xem xét lại nội dung vụ án, giảm mức hình phạt và giảm mức bồi thường vì số tiền mà bên mua lợn đưa cho bị cáo để bị cáo đưa lại cho anh Lắm là 243.500.000 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hoãn việc bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh: Quá trình điều tra ban đầu bị cáo thừa nhận có mua của anh Bùi Văn L 70 con lợn (tổng khối lượng là 7.560kg), sau đó bán lại cho anh Phạm Trí Thành được 245.000.000đ. Sau khi nhận tiền bán lợn từ chị Hợp (vợ anh Thành), bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền này rồi bỏ trốn.
Tại phiên tòa sơ thẩm, mặc dù bị cáo thay đổi lời khai so với quá trình điều tra nhưng thừa nhận: đã nhận được tiền bán 70 con lợn của anh Lắm từ chị Hợp (vợ anh Thành), sau đó tự ý định đoạt sử dụng số tiền này dẫn đến mất khả năng chi trả cho anh Lắm nên đã bỏ trốn vào huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, căn cứ vào lời khai của bị hại anh Bùi Văn L thể hiện phù hợp như nội dung vụ án: sau khi cân 70kg lợn, có khối lượng 7.560 kg, anh Lắm giao số lợn này cho Thế Anh tại trạm cân xã Quảng Thành, huyện Hải Hà. Sau đó anh Lắm yêu cầu Thế Anh thanh toán tiền mặt 287.280.000đ nhưng bị cáo không thanh toán, lấy lý do chủ hàng chưa thanh toán tiền và đưa anh Lắm đi lòng vòng trong đêm tìm chủ hàng để lấy tiền. Xong bị cáo bỏ đi và bảo chuyển khoản trả sau.
Tại bản Kết luận định giá tài sản ngày 29/10/2018 kết luận: 70 con lợn của anh Lắm có tổng khối lượng là 7.560kg tại thời điểm tháng 7/2017 có trị giá là 257.040.000đ.
Lời khai của những người làm chứng: Anh Nguyễn Công Xuân và anh Nguyễn Công Nga đều khai: Các anh cùng ông Lắm đi mua gom 70 con lợn để mang ra huyện Hải Hà bán cho Thế Anh với giá 38.000 đồng/01kg, sau khi Thế Anh nhận được hàng, nhiều lần anh Lắm yêu cầu thanh toán tiền nhưng Thế Anh không trả cho anh Lắm.
Anh Phạm Trí Thành khai: Ngày 13/7/2017 Thế Anh liên lạc với anh Thành thỏa thuận và thống nhất bán cho anh Thành 70 con lợn với giá 36.000đ/01kg, giao nhận hàng tại trạm cân xã Quảng Thành, huyện Hải Hà. Do bận giao hàng nên anh Thành liên lạc với anh Phạm Ngọc Điều để thỏa thuận bán lại 70 con lợn trên cho anh Điều, tiện xe anh Điều bảo Thành bán thêm 20 con lợn nữa. Anh Thành liên lạc bảo Thiện chở 20 con lợn ra trạm cân Quảng Thành rồi thay anh Thành nhận 70 con lợn mua của Thế Anh rồi giao tất cả bán cho anh Điều. Sau khi mua bán xong anh Thành liên lạc bảo chị Phạm Thị Hợp (là vợ Thành) thanh toán tiền mua 70 con lợn cho người của Thế Anh đến nhận tiền.
Chị Phạm Thị Hợp khai: Trước đó Thế Anh có đến nhà chơi và dẫn theo một người nói là vợ. Sau khi Thành gọi điện về bảo đã mua của Thế Anh 70 con lợn, thanh toán tiền cho Thế Anh thì chị đã cùng Thiện đếm và đưa cho người phụ nữ được giới thiệu là vợ Thế Anh số tiền khoảng hơn 270 triệu.
Anh Hoàng Đức Thiện có lời khai phù hợp với chị Phạm Thị Hợp về việc có một người phụ nữ đến nhận là vợ của người bán lợn cho anh Thành, chị Hợp và anh cùng đếm tiền thanh toán cho người phụ nữ đó hơn 200 triệu đồng.
Chị Nguyễn Thị Yến có mặt tại phiên tòa sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm có khai: Khoảng 03 giờ ngày 14/7/2017, Thế Anh gọi điện cho chị bảo đến nhà chị Hợp lấy khoảng hơn 200 triệu đồng mang đến khu vực cầu Hà Cối đưa cho người bạn của Thế Anh để mang về đưa cho Thế Anh. Quá trình Thế Anh bỏ trốn chị có liên lạc và thông báo cho Thế Anh biết việc bị truy nã.
Căn cứ vào lời khai của bị hại và những người làm chứng trên, kết hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận: khoảng 01 giờ 00 phút ngày 14/7/2017 tại thôn Hải Đông, xã Quảng Thành, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Thế A mua của anh Bùi Văn L 70 con lợn giá trị 257.040.000 đồng, sau đó có hành vi gian dối và bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về hình phạt: Căn cứ tính chất, hành vi của bị cáo, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo quanh co, chối tội, gây khó khăn cho hoạt động điều tra nên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo tác động gia đình tự nguyện bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho bị hại, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Hải Hà xử phạt bị cáo 05 năm 06 tháng tù là phù hợp pháp luật, không nặng.
Về trách nhiệm dân sự: Theo chị Phạm Thị Hợp khai sáng ngày 14/7/2017, Phạm Thế A đã bán cho chồng chị là anh Phạm Trí Thành 70 con lợn. Sau đó theo sự chỉ đạo của anh Thành, chị đã trả cho chị Nguyễn Thị Yến là vợ Thế Anh 270.000.000đ tiền mua lợn, có sự chứng kiến của Hoàng Đức Thiện. Theo bản kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hải Hà đã kết luận: 70 con lợn của ông Bùi Văn L có tổng khối lượng là 7.560kg tại thời điểm tháng 7/2017 có giá trị là 257.040.000đ. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm bị hại và bị cáo đồng ý với số tiền theo Hội đồng định giá tài sản, trong quá trình điều tra bị cáo tác động gia đình bồi thường cho bi hại số tiền 41.000.000đ. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho anh Bùi Văn L số tiền 216.040.000đ là đảm bảo đúng theo sự thỏa thuận tự nguyện giữa bị cáo và bị hại.
Xét kháng cáo của bị cáo:
Trong đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo yêu cầu xem xét lại nội dung vụ án, giảm mức hình phạt và giảm mức bồi thường, song tại giai đoạn xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa bị cáo vẫn quanh co, chưa thành khẩn, không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo ngoài tình tiết giảm nhẹ Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo
phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Phạm Thế A. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 11/2022/HS-ST ngày 04/4/2022 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh.
1. Áp dụng: khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, khoản1) Điều 175; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Phạm Thế A 05 (năm ) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 21/8/2021.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; Điều 589, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự: buộc bị cáo Phạm Thế A phải trả cho anh Bùi Văn L, sinh năm 1977; nơi cư trú: khu Đồng Minh, xã Tuy Lộc, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ số tiền là 216.040.000đ (hai trăm mười sáu triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải trả tiền lãi, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Thế A phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm và 10.802.000đ (mười triệu tám trăm lẻ hai nghìn đồng) tiền án phí dân sự.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - CA, VKS, TA huyện Hải Hà; - TTG CA tỉnh Quảng Ninh; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Duy Ước |