vanban.org

Bản án 50/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Lý Phương N. Bà Hồ Lý Phương N được ly hôn với ông Nguyễn Thành T.

Về con chung: Bà Hồ Lý Phương N và ông Nguyễn Thành T có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Khánh N, sinh ngày 20/3/2020. Giao con chung là Nguyễn Ngọc Khánh N, sinh ngày 20/3/2020 cho bà Hồ Lý Phương N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Sau khi ly hôn, ông Nguy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Lý Phương N- Nguyễn Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Lý Phương N. Bà Hồ Lý Phương N được ly hôn với ông Nguyễn Thành T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2022/HNGĐ-ST
Ngày 03-8-2022
V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Hiền

Các hội thẩm nhân dân:

1.Ông Nguyễn Thế Phương.

2.Bà Trần Thị Lệ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thành - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hồng, Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 246/2022/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2022; Quyết định hoãn phiên toà số 34/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hồ Lý Phương N, sinh năm 2001; Địa chỉ: Phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1998; Địa chỉ: Xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:

Bà Hồ Lý Phương N và ông Nguyễn Thành T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2019, có tổ chức lễ cưới và được hai bên gia đình đồng ý. Ông bà có làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định tại UBND xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 59, ngày 04/11/2019.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống và cách sống dẫn đến vợ chồng không hiểu nhau, không cảm thông cho nhau, thường xuyên cãi vả, tình cảm vợ chồng rạn nứt, không còn quan tâm chia sẻ, chăm sóc lẫn nhau. Ông bà đã tự sống ly thân từ đầu tháng 04/2022 cho đến nay

Về con chung: Bà Hồ Lý Phương N và ông Nguyễn Thành T có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Khánh N, sinh ngày 20/3/2020. Bà N có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc con chung cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ ( Hai triệu đồng).

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn: Kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T vẫn không đến Tòa án làm việc mà không có lý do, vì thế Tòa án không thể tổ chức hòa giải để thuyết phục động viên các bên giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm để trở về đoàn tụ với nhau. Sau Nều lần vắng mặt, đại diện Tòa án cũng đã phối hợp với đại diện địa phương đến nơi cư trú của ông T để làm rõ tình trạng hôn nhân của vợ chồng ông T và tìm hiểu nguyên nhân vắng mặt của ông T, nhưng không gặp được ông T.

Qua xác minh tại địa phương: Công an xã Tóc Tiên, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cung cấp: Ông Nguyễn Thành T có đăng ký hộ khẩu tại ấp 3, xã Tóc Tiên, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu và hiện vẫn đang sinh sống tại địa chỉ trên.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn, nuôi con chung, rút yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận cho bà N được ly hôn với ông T.

Về con chung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của bà N. Giao con chung là Nguyễn Ngọc Khánh N, sinh ngày 20/3/2020 cho bà N chăm sóc nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Đề nghị đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện về cấp dưỡng nuôi con do nguyên đơn đã rút yêu cầu khởi kiện về phần này

Về tài sản chung và nợ chung: Không ai yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xém xét.

Về án phí: Buộc bà N phải nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Bị đơn đang cư trú tại thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ theo khoản 1 điều 28 và điểm a khoản 1 điều 35, Điều 36, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.

2 Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

2.1 Về quan hệ hôn nhân:

Qua thời gian quen biết và tìm hiểu nhau, bà Hồ Lý Phương N và ông Nguyễn Thành T tiến tới hôn nhân chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2019 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Bà N, ông T đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 59, quyển số 01/2014 ngày 04/11/2019. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình hoà giải tại Toà, bà N xác định không còn tình cảm với ông T nữa. Cả hai phát sinh Nều mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do bất đồng về tính cách, quan điểm sống nên dẫn đến thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng. Bà N, ông T đã tự sống ly thân từ tháng 04 năm 2022 cho đến nay. Tòa án đã Nều lần tổ chức hòa giải để vợ chồng bà N, ông T đoàn tụ nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do, điều này chứng tỏ ông T không có thiện chí hòa giải và không mong muốn tiếp tục chung sống với bà N nữa. Riêng bà N vẫn cương quyết và có nguyện vọng được ly hôn với ông T, bà N không đồng ý đoàn tụ với ông T. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng bà N, ông T đã thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Nên cần chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của bà N với ông T.

2.2 Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà N , ông T có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Khánh N, sinh ngày 20/3/2020. Bà N có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng con chung cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Xét thực tế hiện nay cháu N dưới 36 tháng tuổi và đang ở với bà N, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu về nuôi con chung của bà N có căn cứ. Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa bà N rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu ông Nguyễn Thành T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng (Hai triệu đồng) mỗi tháng. Xét việc rút yêu cầu này là tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật nên cần đình chỉ về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà N

3 Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn bà N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 235, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Lý Phương N. Bà Hồ Lý Phương N được ly hôn với ông Nguyễn Thành T.

2.Về con chung: Bà Hồ Lý Phương N và ông Nguyễn Thành T có 01 con chung là Nguyễn Ngọc Khánh N, sinh ngày 20/3/2020. Giao con chung là Nguyễn Ngọc Khánh N, sinh ngày 20/3/2020 cho bà Hồ Lý Phương N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Sau khi ly hôn, ông Nguyễn Thành T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc thăm con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

3.Về cấp dưỡng nuôi con: Đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Lý Phương N về yêu cầu ông Nguyễn Thành T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng (Hai triệu đồng) mỗi tháng.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết

5. Về án phí hôn nhân gia đình: Bà Hồ Lý Phương N phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006251 ngày 20/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ. Như vậy bà N đã nộp xong án phí .

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai

Cỡ chữ