- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị T tranh chấp ly hôn, nuôi con với Trịnh Văn Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2022/HNGĐ – ST Ngày: 24 – 6 - 2022 “V/v xin ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Tám
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Huỳnh Văn Thanh
Bà Nguyễn Thị Thùy Kha
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hoàng Cúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: không tham gia phiên tòa
Ngày 24 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 14/2022/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2022, về việc: “Xin ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2022/QĐST – HNGĐ, ngày 10 tháng 5 năm 2022 giữa các đượng sự:
* Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1976 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T1, xã T2, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
* Bị đơn: Ông Trịnh Văn Đ, sinh năm: 1974 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T1, xã T2, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày: Nguyên vào đầu năm 2006, bà và ông Trịnh Văn Đ kết hôn theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T2, huyện M vào ngày 02/01/2007 đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01/2007.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại ấp T1, xã T2, huyện M. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, hòa thuận đến năm 2020 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi. Nguyên nhân là do ông Đ thường xuyên nhậu say về kiếm chuyện chửi bới vợ con, đôi khi còn đánh đập vợ. Bà đã nhiều lần khuyên can nhưng ông Đ tính nào tật nấy không thay đổi mà còn quá đáng hơn, kiếm chuyện nhiều hơn. Gia đình hai bên đã nhắc nhở, hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đã ly thân với ông Đ từ tháng 10 năm 2021 đến nay. Nay bà cảm thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn với ông Trịnh Văn Đ.
- Con chung: quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên là Trịnh Thị Ngọc T3, sinh ngày 25/8/2011 và Trịnh Lê Quốc L, sinh ngày 23/6/2008, hiện đang sống với mẹ. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
-Tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nợ chung phải thu, phải trả: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn ông Trịnh Văn Đ nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông Đ vắng mặt không có lý do. Cháu Trịnh Lê Quốc L trình bày: cháu không muốn cha mẹ ly hôn, cháu muốn sống với cả cha lẫn mẹ. Hiện nay cháu đang sống với cha là ông Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[ 1 ] Về tố tụng: Bị đơn ông Trịnh Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ.
[ 2 ] Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2006, bà T và ông Đ xây dựng hôn nhân với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T2, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông Đ là hôn nhân hợp pháp.
Về mâu thuẩn vợ chồng, bà T cho rằng ông Đ thường xuyên nhậu say về kiếm chuyện chửi bới vợ con, đôi khi còn đánh đập vợ. Gia đình hai bên đã nhắc nhở, hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt, bà và ông Đ không còn sống chung với nhau từ tháng 10 năm 2021 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, ông Đ đã được Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T nhưng vắng mặt không có lý do.
Do đó chứng tỏ rằng tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông Đ trở nên trầm trọng, không thể hàn gắn được, nên xét việc bà T yêu cầu ly hôn với ông Đ là có căn cứ phù hợp với Điều 51 và 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[ 3 ] Về con chung: quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên là Trịnh Thị Ngọc T3, sinh ngày 25/8/2011 và Trịnh Lê Quốc L, sinh ngày 23/6/2008, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
Cháu Trịnh Thị Ngọc T3 trình bày nguyện vọng trường hợp cha mẹ ly hôn, cháu xin được sống với mẹ là bà T cho đến tuổi trưởng thành.
Quá trình giải quyết cháu Trịnh Lê Quốc L cho rằng cháu không muốn cha mẹ ly hôn, cháu muốn sống với cả cha lẫn mẹ
Tại phiên tòa hôm nay cháu cũng không trả lời cho Hội đồng xét xử nguyên vọng sống với ai nếu cha mẹ ly hôn và cháu L trình bày hiện nay sống với cha, cuộc sống ổn định, bà T cho rằng nếu Hội đồng xét xử giao cháu Linh cho ông Đ nuôi dưỡng thì bà cũng đồng ý. Do đó Hội đồng xét xử giao cháu T3 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu L cho ông Đ tiếp tục nuôi dưỡng, do bên trực tiếp nuôi con chưa yêu cầu cấp dưỡng con nên không xem xét.
[ 4 ] Quyền và nghĩa vụ về tài sản chung, nợ phải thu, phải trả: đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[ 5 ] Về án phí: Bà T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Lê Thị T được ly hôn với ông Trịnh Văn Đ.
2/ Về con chung: Giao con chung Trịnh Thị Ngọc T3, sinh ngày 25 tháng 8 năm 2011 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, giao con chung Trịnh Lê Quốc L, sinh ngày 23/6/2008 cho ông Đ nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do bên trực tiếp nuôi dưỡng chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con không xem xét.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3/ Quyền và nghĩa vụ về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4/ Về án phí: Bà T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ từ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít theo lai thu số No 0006905 ngày 20 tháng 01 năm 2022, bà T không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoạc tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAT; - VKSND huyện MT; - THAD huyện MT; -UBND T2; - Đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Võ Thị Tám |