vanban.org

Bản án 50/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Minh N được ly hôn anh Hoàng Văn T.

Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Thiên A, sinh ngày 29-10-2020 cho chị Phạm Thị Minh N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Hoàng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Phạm Thị Minh N không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Minh N - Hoàng Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Minh N được ly hôn anh Hoàng Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NGẠN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 21-7-2022
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Đăng Thanh.

Bà Nguyễn Thị Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Tú, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 275/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Minh N, sinh năm 2002; trú tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1994; trú tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/6/2022, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là chị Phạm Thị Minh N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn T kết hôn tự nguyện, không bị ai ép buộc và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 16-10-2020. Mẫu thuẫn vợ chồng phát sinh từ tháng 11/ 2020, đến tháng 5/2021 thì mâu thuẫn căng thẳng, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không bảo ban được nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình nên thường xuyên xảy ra cãi nhau vô cớ. Nên chị đã bỏ về nhà ngoại tại thôn C, xã K, huyện L sống ly thân anh T, không ai còn quan tâm đến ai. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Văn T.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Hoàng Thiên A, sinh ngày 29-10-2020. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, anh Hoàng Văn T trình bày:

Anh và chị Phạm Thị Minh N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 16-10-2020. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại thôn H, xã T, huyện L, ban đầu tình cảm vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2021 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Vợ chồng ly thân từ năm 2021, không ai quan tâm đến ai. Nay chị N xin ly hôn, anh thấy tình cảm vợ chồng không còn nên nhất trí ly hôn với chị N.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Hoàng Thiên A, sinh ngày 29-10-2020. Nay ly hôn, anh nhất trí để chị N là người tiếp tục nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Anh xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phạm Thị Minh N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh Hoàng Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Bị đơn anh Hoàng Văn T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của anh T tại phiên tòa, chị N không có ý kiến gì về lời trình bày của anh T.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ xét thấy tình trạng mâu thuẫn của đương sự là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên xử: Cho chị Phạm Thị Minh N được ly hôn anh Hoàng Văn T. Về con chung: Giao chị Phạm Thị Minh N là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hoàng Thiên A, sinh ngày 29-10-2020. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ chung: Chị Phạm Thị Minh N trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phạm Thị Minh N có đơn xin ly hôn đối với anh Hoàng Văn T. Bị đơn anh Hoàng Văn T có hộ khẩu thường trú tại thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn anh Hoàng Văn T vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Phạm Thị Minh N kết hôn với anh Hoàng Văn T trên cơ sở có sự tự do tìm hiểu, tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 16 tháng 10 năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh chị chung sống đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung về nhiều vấn đề trong cuộc sống nên đã ly thân nhau từ năm 2021 đến nay. Cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được.

Hội đồng xét xử thấy: Quan hệ hôn nhân của chị Phạm Thị Minh N và anh Hoàng Văn T là hợp pháp. Hiện nay chị Phạm Thị Minh N và anh Hoàng Văn T không còn sống chung cùng nhau, không ai quan tâm đến ai. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng cả chị Phạm Thị Minh N và anh Hoàng Văn T đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Phạm Thị Minh N vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh Hoàng Văn T. Bị đơn anh T cũng nhất trí ly hôn với chị N. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Phạm Thị Minh N và anh Hoàng Văn T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Phạm Thị Minh N được ly hôn anh Hoàng Văn T.

Về con chung: Chị Phạm Thị Minh N và anh Hoàng Văn T có một con chung là Hoàng Thiên A, sinh ngày 29-10-2020. Hội đồng xét xử thấy: Cháu An còn nhỏ, chưa đủ 36 tháng tuổi, hiện đang chung sống với chị N, sau khi ly hôn chị N có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, chị N có thu nhập ổn định và nơi cư trú rõ ràng. Đồng thời anh T cũng nhất trí để chị N tiếp tục nuôi dưỡng con chung của vợ chồng nên cần giao cháu An cho chị Phạm Thị Minh N nuôi dưỡng là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con do chị Phạm Thị Minh N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Chị Phạm Thị Minh N và anh Hoàng Văn T cùng trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Phạm Thị Minh N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị Minh N được ly hôn anh Hoàng Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Thiên A, sinh ngày 29-10-2020 cho chị Phạm Thị Minh N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Hoàng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị Phạm Thị Minh N không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị Minh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, xác nhận chị N đã nộp đủ theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0010892 ngày 16 tháng 6 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Phạm Thị Minh N được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn anh Hoàng Văn T không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ