vanban.org

Bản án 50/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về chia tài sản chung

TAND TP. Tân An, tỉnh Long An Tuyên án 03/08/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU Hoãn phiên tòa xét xử vụ án dân sự thụ lý số 33/2021/TLST–DS ngày 02 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản chung — án dân sự — "ly hon"
  • Tòa quyết gì? HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ TÂN AN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 03-8-2022
V/v tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tĩnh

2. Ông Nguyễn Văn Sở

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Công – Thư ký Tòa án - Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 192/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2022 về “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị D, sinh năm 1992

Địa chỉ: Thôn 10, xã MT, huyện PM, tỉnh Bình Định.

2. Bị đơn: Ông Võ Sơn L, sinh năm 1991

Địa chỉ: số 475 Quốc lộ 1, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An.

(Bà Dvà ông L có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Phan Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng chung sống với nhau năm 2019, có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã. Đến tháng 04 năm 2021, mâu thuẫn trầm trọng, bà xin đi làm ở huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai còn ông L thì đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh, vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông L, nên yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Võ Phan Bảo H, sinh ngày 03/10/2019. Từ khi vợ chồng ly thân, con chung sống với ông bà nội tại địa chỉ số 475 Quốc lộ 1, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An. Hiện nay, bà làm việc cho Công ty bảo hiểm, kinh doanh bất động sản thu nhập bình quân 10.000.000đ/tháng. Khi ly hôn, bà yêu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.

Tài sản chung, nợ chung: Bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Võ Sơn L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian kết hôn và quá trình chung sống như bà D trình bày là đúng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Đến khoảng tháng 4/2021, bà D đi làm ở huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Lúc này, ông cũng đi làm ở thành phố Hồ Chí Minh, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay bà D yêu cầu ly hôn, ông đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Võ Phan Bảo H, sinh ngày 03/10/2019. Hiện con chung sống với ông bà nội tại địa chỉ số 475 Quốc lộ 1, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An. Khi ly hôn, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung vì từ nhỏ con chung đã sống bên nhà nội, quen với nếp sống và sinh hoạt của gia đình ông. Ông hiện nay không còn làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh mà về Tân An sinh sống và đang tìm việc làm. Ông không yêu cầu bà Dcấp dưỡng.

Tài sản chung, nợ chung: Ông xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Phan Thị D giữ nguyên yêu cầu và lời trình bày.

Bị đơn ông Võ Sơn L trình bày ông vừa nhận vào làm trình dược viên tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, khu vực làm việc là Tiền Giang và Long An, lương 8.000.000đ đến 9.000.000đ/tháng chưa có hợp đồng lao động và bảng lương.

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án cho rằng:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo đúng quy định pháp luật tố tụng.

Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Phan Thị D và ông Võ Sơn L; giao con chung tên Võ Phan Bảo H, sinh ngày 03/10/2019 cho bà Phan Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, ông Võ Sơn L không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền: Vào ngày 13/7/2022, Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An có thụ lý đơn khởi kiện bà Phan Thị D xin ly hôn với ông Võ Sơn L, sinh năm 1991; Địa chỉ: số 475 Quốc lộ 1, Phường 4, thành phố Tân An, tỉnh Long An làm phát sinh vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông L chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Bà D và ông L đều xác định vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Tòa án đã tiến hành xác minh về tình trạng hôn nhân của bà D và ông L tại địa phương nhưng địa phương không nắm rõ. Hội đồng xét xử xét thấy: Cả bà D và ông L đều thuận tình ly hôn như vậy quan hệ tình cảm giữa bà D và ông L không còn, tình trạng mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xét nên công nhận sự việc thuận tình ly hôn giữa bà D và ông L là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

2.2. Về nuôi con chung: Bà D và ông L xác định vợ chồng có 01 con chung tên là Võ Phan Bảo H, sinh ngày 03/10/2019. Khi ly hôn, bà D và ông L đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cả bà D và ông L đều có việc làm, có thu nhập nên cả 2 đều có đủ điều kiện về kinh tế, điều kiện chăm sóc, giáo dục con chung. Tuy nhiên con chung Võ Phan Bảo H, sinh ngày 03/10/2019 hiện nay chưa đủ 36 tháng tuổi. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Hội đồng xét xử xét thấy, giao con chung Võ Phan Bảo H, sinh ngày 03/10/2019 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng, ông L không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

Bà D và ông L có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

2.3. Về chia tài sản và chia nợ: Bà D và ông L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên bản án không đề cập đến.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ.

Về án phí: Bà D và ông L phải chịu án phí thuận tình ly hôn theo quy định pháp luất.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Phan Thị D và ông Võ Sơn L.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung chưa thành niên tên Võ Phan Bảo H, sinh ngày 03/10/2019 cho bà Phan Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Võ Sơn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên sau khi ly hôn mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.

3. Về chia tài sản, chia nợ: Bản án không đề cập đến.

4. Về án phí: Bà Phan Thị D và ông Võ Sơn L mỗi phải chịu 75.000đ (bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình. Chuyển 75.000đ trong tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001736 ngày 13/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An thành án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân – gia đình. Hoàn cho bà Phan Thị D 225.000đ (hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ