- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đình Th phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Đình Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2021/HSST Ngày 28 tháng 10 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Việt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Ngọc và ông Lê Mạnh Quỳnh
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Yến - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên tòa: Bà Khổng Thị Chanh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2021/HSST ngày 13 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Trần Đình Th, sinh ngày 19/10/2002; trú tại: Thôn K, xã K, huyện SD, tỉnh Tuyên Quang; văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc Tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình H và bà Phùng Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2021 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc. Có mặt
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1954; trú tại: Thôn K, xã K, huyện SD, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 28/6/2021, sau khi mua được 02 gói ma túy, mục đích để bán kiếm lời, Trần Đình Th điều khiển xe mô tô Wave anpha BKS: 22S1-270.75 đến đập Vĩnh Ninh thuộc thôn Vĩnh Ninh, xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc thì Th dừng xe đi vệ sinh. Cùng lúc này có Nguyễn Văn Q, sinh năm 1996 ở thôn Nhân Lý, xã Tam Quan, huyện Tam Đảo đi đến chỗ Th hỏi “Còn đồ không để lại cho tôi cái”, Th hiểu ý của Q muốn hỏi mua ma túy nên trả lời “Còn cái 200.000 đồng lấy để cho”, Q đồng ý. Q đưa cho Th số tiền 200.000 đồng, Th cầm tiền Q đưa cất vào túi quần bên trái đang mặc rồi lấy 01 gói ma túy Heroine trong vỏ bao thuốc lá đưa cho Q, Q vừa cầm gói ma túy thì bị lực lượng công an huyện Tam Đảo bắt quả tang Th và Q có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Q 01 gói nhỏ bằng giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong gói nhỏ này có chất bột dạng cục màu trắng, Q khai nhận đó là gói ma túy Heroine Q vừa mua được của Th với giá 200.000 đồng. Vật chứng được niêm phong ký hiệu M1. Thu tại túi quần bên trái của Th đang mặc số tiền 200.000 đồng, Th khai nhận đây là số tiền Th bán 01 gói ma túy cho Q mà có, vật chứng niêm phong ký hiệu T1. Thu tại túi quần bên phải Th mặc 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói nhỏ bằng giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng bên trong gói nhỏ có chất bột dạng cục màu trắng, vật chứng niêm phong ký hiệu M2. Tạm giữ của Th 01 xe máy nhãn hiệu Wave anpha, BKS: 22S1-270.75 màu trắng đã cũ.
Ngày 28/6/2021, Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo ra Quyết định trưng cầu giám định số 158, trưng cầu phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định đối với mẫu ký hiệu M1, M2. Tại Kết luận giám định số 1435/KLGĐ ngày 01/7/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:
“1. Chất bột, cục màu trắng của mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0226 g (không phẩy không hai hai sáu gam, không kể bao bì) loại Heroine.
2. Chất bột, cục màu trắng của mẫu ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,0221 g (không phảy không hai hai một gam, không kể bao bì) loại Heroine.”
Hoàn trả trực tiếp cho cơ quan trưng cầu M1 = 0,000g và M2 = 0,000g mẫu và toàn bộ bao gói.
Về nguồn gốc ma túy Trần Đình Th khai: Khoảng hơn 10 giờ ngày 28/6/2021, Th đi bộ đến nhà bà Nguyễn Thị Đ ở cùng thôn (là bà ngoại Th) mượn xe mô tô Wave anpha BKS: 22S1-270.75 nói là đi chơi, bà Đ đồng ý cho mượn. Th điều khiển xe mô tô đến thôn Vĩnh Ninh mua được 02 gói ma túy heroine với giá 300.000 đồng của 01 người phụ nữ khoảng 30 tuổi ở thôn Vĩnh Ninh, xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc (Thiện không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của người phụ nữ này). Sau khi mua được 02 gói ma túy, Th điều khiển xe mô tô tới đập Vĩnh Ninh, xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo thì Quang hỏi mua ma túy. Th đồng ý, khi đang bán cho Q thì bị công an bắt quả tang. Do Th không xác định được tên tuổi địa chỉ cụ thể của người bán ma túy cho Thiện nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với Nguyễn Văn Q người mua ma túy của Th, sau khi bị bắt quả tang, Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo đã đưa về trụ sở lấy lời khai và tường trình sự việc, lợi dụng sơ hở Q đã bỏ trốn. Quá trình điều tra xác minh tại xã Tam Quan, huyện Tam Đảo không có người nào tên Q có lai lịch như đối tượng đã khai. Mặt khác gói ma túy Q mua của Th để sử dụng có khối lượng 0,0226 gam loại Heroine, do lượng ma túy không đủ cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Do vậy Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo tiếp tục điều tra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với bà Nguyễn Thị Đ người cho Trần Đình Th mượn xe mô tô Wave anpha BKS: 22S1- 270.75, do Th không nói cho bà Đ biết Th mượn xe để đi mua ma túy và bà Đ không biết việc Thiện mượn xe mô tô để đi mua bán trái phép chất ma túy, do đó Cơ quan điều tra không xử lý đối với bà Đ.
Tại Cáo trạng số 55/CT-VKSTĐ ngày 12/10/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo đã truy tố Trần Đình Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự;
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà đã phân tích hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Đình Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trần Đình Th từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy do Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả lại sau giám định M1 = 0,000 gam và M2 = 0,000 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000đ do Trần Đình Th bán trái phép chất ma túy mà có; trả lại cho bà Nguyễn Thị Đ 01 xe máy nhãn hiệu Wave anpha BKS: 22S1-270.75, màu trắng đã cũ, là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Đ.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Đình Th đã thành khẩn khai nhận và rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, khi nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, với các chứng cứ khác đã được thu thập và phù hợp với Cáo trạng đã được Đại diện Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa. Do vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trần Đình Th phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt của bị cáo được qui định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Điều luật quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý. Ma tuý là một tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, làm sói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, là nguyên nhân phát sinh của nhiều loại tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung;
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Do vậy cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có thu nhập nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;
Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy do Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả lại sau giám định M1 = 0,000 gam và M2 = 0,000 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000đ do Trần Đình Thiện bán trái phép chất ma túy mà có; trả lại cho bà Nguyễn Thị Đảm 01 xe máy nhãn hiệu Wave anpha BKS: 22S1-270.75, màu trắng đã cũ, là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Đ.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được Điều tra viên, Kiểm sát điều tra, thu thập theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng mọi hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự trong việc điều tra, truy tố đối với bị cáo;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Đình Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
2. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trần Đình Th 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 28/6/2021;
3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật ma túy do Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả lại sau giám định M1 = 0,000 gam và M2 = 0,000 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000đ do Trần Đình Th bán trái phép chất ma túy mà có; trả lại cho bà Nguyễn Thị Đ 01 xe máy nhãn hiệu Wave anpha BKS: 22S1-270.75, màu trắng đã cũ, là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Đ.
(có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/10/2021)
4.Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án án số 326/2016/PL-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Tam Đảo; - Công an huyện Tam Đảo; - Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc; - Chi cục THADS huyện Tam Đảo; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Quốc Việt |