- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng Thị D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! !!!HUYỆN!SỐP!CỘP! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 50 /2021/HS-ST Ngày: 28/5/2021 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!SỐP!CỘP,!TỈNH!SƠN!LA!
!
!!!!!!!!!Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: !!!!!!!!!Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà: Ông Dương Ngọc Tam. """""""""Các"Hội"thẩm"nhân"dân: 1.Ông Lò Văn Dưỡng;
2.Bà Hoàng Thị Kiều.
Thư ký phiên toà:"Ông Hà Văn Thiết – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. """""""""Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên toà: Ông Giàng A Mơ – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 50/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/QĐXXST- HS ngày 17/5/2021 đối với bị cáo: !!
!Giàng! Thị! D,! tên gọi khác: Không, giới tính: Nữ; sinh năm 1979, tại huyện S, tỉnh Sơn La.
Nơi cư trú: Bản Huổi M, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Mông; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái: Không; con ông: Giàng Giống L (đã chết) và bà Vàng Thị D1, có chồng là Vừ Cha L (đã chết) và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2020 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người tham gia tố tụng khác:
Người phiên dịch: Ông Vừ Vả Chứ, sinh năm 1991, công tác tại huyện Đoàn Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, có mặt.
!!!!!!!!!!!NỘI!DỤNG!VỤ!ÁN: !
! !
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 27/12/2020 Giàng Thị D đang ở nhà tại bản Huổi Men thì có một thanh niên người dân tộc Mông không quen biết đến nhờ mua ma túy, qua trao đổi người đó đã đưa cho D 200.000 đồng, nếu mua được sẽ trả công cho D 50.000 đồng. D nhận tiền rồi đến nhà Ly A M, sinh năm 1998, người cùng bản, mua được của Mua 10 viên nén màu hồng với số tiền 200.000 đồng, mua được ma túy D cất giấu vào túi áo khoác đang mặc rồi về nhà, khi đưa số ma túy cho người thanh niên nhờ mua ma túy bảo D cầm số ma túy đi cùng để tìm chỗ sử dụng và trả tiền công cho D, khi cả hai đi đến bản Cống, xã
1 Mường Lạn thì bị tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp và Đồn Biên phòng Mường Lạn kiểm tra phát hiện lập biên bản quả tang đã thu giữ và niêm phong số vật chứng là 10 viên nén hình tròn nghi là ma túy tổng hợp.
Ngày 28/12/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sốp Cộp thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định gói vật chứng của có tổng khối lượng 1,09 gam, đã lấy 03 viên có khối lượng 0,33 gam làm mẫu giám định ký hiệu D, còn lại 7 viên có khối lượng 0,76 gam ký hiệu D1 lưu kho vật chứng.
Bản kết luận giám định số 133 ngày 18/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu D là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu giám định 0,33 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,09 gam; loại Methamphetamine.
Bản Cáo trạng số 28/CT-VKSSC ngày 13 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, truy tố bị cáo Giàng Thị D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi trình bày luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và xử phạt bị cáo Giàng Thị D từ 20 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì thư đã niêm phong kín; bên trong phong bì có chứa 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở và 01 mảnh ni lon màu hồng, 01 túi vật chứng lưu kho ký hiệu D1 có khối lượng 0,76 gam; Miễn khoản án phí cho bị cáo.
Về nguồn gốc 1,09 gam ma túy bị cáo D khai mua của Ly A M, trong giai đoạn điều tra cơ quan Điều tra đã có lệnh dẫn giải nhưng M không có mặt tại địa phương. Yêu cầu cơ quan Điều tra Công an huyện Sốp Cộp tiếp tục điều tra làm rõ, khi có căn cứ phạm tội sẽ giải quyết ở vụ án khác. !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về tính hợp pháp của các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, tình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên; Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp, và đúng quy định của pháp luật.
[2]Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Giàng Thị D khai nhận ngày 27/12/2020 bị cáo đã mua và cầm hộ 10 viên ma túy cho một người không quen biết với giá 200.000 đồng, để được hưởng lợi 50.000 đồng nhưng chưa kịp
2 giao cho người thanh niên đó thì bị Công an huyện bắt quả tang; Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 13 giờ 30 phút ngày 27 tháng 12 năm 2020; Biên bản cân tịnh vật chứng ngày 28/12/2020, kết luận giám định số 133, ngày 29/12/2020, lời khai nhận của bị cáo, lời khai người làm chứng, vật chứng của vụ án là 1,09 gam ma túy, loại Methamphetamine.
Từ những căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận Giàng Thị D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi cất giấu trái phép 1,09 gam ma túy là vi phạm pháp luật, hành vi đó đã gây nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác; Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm răn đe giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: không có
Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội tại cơ quan Điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo phải bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự; xét thấy bị cáo không có điều kiện về kinh tế, nên không áp dụng.
[6]Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Vật chứng còn lại là 01 phong bì thư đã niêm phong kín; bên trong phong bì có chứa 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh ni lon màu hồng và 01 túi vật chứng lưu kho ký hiệu D1 có khối lượng 0,76 gam ma túy, loại Methamphetamine, là vật cấm lưu hành cần tịch thu để tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số, nơi cư trú có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khóa khăn, Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; cần miễn khoản án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[8] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT!ĐỊNH:!
1.Về tội danh:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố Giàng Thị D, phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
3
2. Về hình phạt: Xử phạt Giàng Thị D 20 (Hai mươi) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2020. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc chấp hành án.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
-Tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì thư đã niêm phong kín; bên trong phong bì có chứa 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh ni lon màu hồng và 01 túi vật chứng lưu kho ký hiệu D1 có khối lượng 0,76 gam ma túy, loại Methamphetamine; Toàn bộ vật chứng của vụ án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14 tháng 5 năm 2021.
5. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Miễn khoản án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng thị D.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.!!!!!
! ! ""Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Sốp Cộp; - Công an huyện Sốp Cộp; - Thi hành HS; - Trại giam Sơn La; - Người CQLNVLQ; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Thi HADS huyện Sốp Cộp; - Lưu hồ sơ vụ án. ! ! | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! !THẨM!PHÁN-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! ! ! ! ! !Dương!Ngọc!Tam! 4 |