vanban.org

Bản án 50/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An Tuyên án 18/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D (tên gọi khác; Nguyễn Tiến D) và Lại Tuấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn D (tên gọi khác; Nguyễn Tiến D): 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là 09/ 5/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D (tên gọi khác; Nguyễn Tiến D) và Lại Tuấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ HỢP
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2021/HS-ST
Ngày 18 tháng 8 năm 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Văn Đạt.

Các Hội thẩm: Bà Hoàng Thị Đào.

Ông Lương Văn Công.

Thư ký phiên toà: Ông Phan Văn Vận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An:

Ông Trương Văn Hào: Kiểm sát viên:

Ngày 18 tháng 8 năm 2021, tạị Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 48/2021/TLST-HS, ngày 19/7/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78 /2021/QĐXXST-HS ngày 06/ 8 /2021 đối với các bị cáo:

1-Nguyễn Văn D (tên gọi khác Nguyễn Tiến D): Sinh năm 1988.

Trú tại: Xóm B, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt nam, Dân tộc: Tày, Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Trình độ văn hóa: 10/12, Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Văn T và con bà Hoàng Thị Y. Vợ thứ nhất: Huỳnh Thị Bạch L (đã ly hôn), vợ thứ hai Lâm Thị C (đã ly hôn), con có 01 người 10 tuổi. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2017, bị công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích, chấp hành xong ngày 18/7/2017

Năm 2018 bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 18/9/2019. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09 tháng 5 năm 2021. Có mặt tại phiên tòa.

2-Bị cáo Lại Tuấn T: Sinh năm 1987. Trú tại: Xóm T, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Trình độ văn hóa: 10/12, Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Lại Tuấn Y và con bà Dương Thị T. Vợ Hà Thị N, con có 01 người sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09 tháng 5 năm 2021. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 0 giờ 30 phút, ngày 09 tháng 5 năm 2021, tại phòng số 6 nhà nghỉ H thuộc khối 2, thị trấn Q, huyện Q, Công an huyện Q phối hợp với Công an thị trấn Q phát hiện, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn D và Lại Tuấn T đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trên giường phòng nghỉ của hai đối tượng 01 gói Polyetylen chứa chất tinh thể dạng rắn màu trắng có khối lượng là 0,25 gam( nghi là ma túy). Quá trình điều tra Nguyễn Văn D và Lại Tuấn T khai nhận gói chất tinh thể dạng rắn màu trắng bị thu giữ là ma túy. Số ma túy trên là D và T góp tiền mua chung về sử dụng. Nguyễn Văn D là người trực tiếp mua của một người không quen biết 01 gói ma túy với giá 500.000đ và tự làm dụng cụ để sử dụng ma túy.

Vật chứng: Thu giữ số chất tinh thể dạng rắn màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn D và Lại Tuấn T .Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 09/5/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Nghệ An xác định số chất tinh thể dạng rắn màu trắng thu giữ có khối lượng là 0,25 gam, 01 chai nhựa trong suốt có nắp màu xanh trên được gắn một ống hút bằng nhựa và 01 coóng thủy tinh một đầu có hình bầu tròn, một chiếc bật lửa màu trắng.

Bản kết luận giám định số: 699/ KL- PC09 (Đ2- MT) ngày 13/5/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất tinh thể dạng rắn màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn D và lại Tuấn T gửi tới giám định là ma túy Methamphetamine có khối lượng là 0,25 gam.

Bản cáo trạng số: 52/CT-VKSQH ngày 16/ 7 /2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo Nguyễn Văn D, Lại Tuấn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Văn D, Lại Tuấn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Lại Tuấn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,1 gam chất tinh thể màu trắng là ma túy Methamphetamine có khối lượng là 0,1 gam, 01 chai nhựa trong suốt có nắp màu xanh trên được gắn một ống hút bằng nhựa và 01 coóng thủy tinh một đầu có hình bầu tròn, một chiếc bật lửa màu trắng.

Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[ 1 ]. Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ 2 ]. Những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội.

Lời khai của bị cáo, kết luận giám định số: 699/ KL- PC09 (Đ2- MT) ngày 13/ 5 /2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản mở niêm phong lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Các bị cáo đã có hành vi phạm tội như sau; Vào hồi 0 giờ 30 phút, ngày 09 tháng 5 năm 2021 tại phòng số 6 nhà nghỉ H thuộc khối 2, thị trấn Q, huyện Q Công an huyện Q bắt quả tang Nguyễn Văn D và Lại Tuấn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,25 gam Methamphetamine do vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Q truy tố các bị cáo Nguyễn Văn D và Lại Tuấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ.

[ 3 ]. Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Đây là một vụ án có tính chất nghiêm trọng, đồng phạm giản đơn các bị cáo cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội, trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn D có vai trò chính, bị cáo đã rủ bị cáo Lại Tuấn T mua ma túy về sử dụng, bị cáo tự đi mua ma túy và làm dụng cụ để sử dụng ma túy.

Các bị cáo Nguyễn Văn D, Lại Tuấn T là các đối tượng nghiện ma túy, nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mục đích là để sử dụng, các bị cáo phạm tội nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo D, T là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Hành vi này làm mất ổn định trật tự tại địa bàn và phát sinh nhiều tệ nạn xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Văn D không có tiền án, tiền sự, có nhân thân, bị cáo có vai trò tích cực trong vụ án. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Do vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nhưng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.

Bị cáo Lại Tuấn T không có tiền án, tiền sự, nhân thân, bị cáo có vai trò thứ yếu trong vụ án. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Do vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nhưng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.

[ 4 ]. Vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư bên trong có 0,1 gam ma túy, 01 chai nhựa trong suốt có nắp màu xanh trên được gắn một ống hút bằng nhựa và 01 coóng thủy tinh một đầu có hình bầu tròn, một chiếc bật lửa màu trắng thu của Nguyễn Văn D và Lại Tuấn T. Chi tiết thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2001 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Quỳ Hợp.

Điện thoại thu của hai bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cho nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã trả lại cho các bị cáo theo đúng quy định của pháp luật, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo đều là con nghiện ma túy, do vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo không rỏ họ tên, địa chỉ nên không cơ sở để điều tra xử lý.

Đối với chủ nhà nghỉ ông Hoàng Văn Q không biết các bị cáo thuê phòng nghỉ để sử dụng ma túy, cho nên Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông Quang.

[ 5 ] Về án phí. Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn D (tên gọi khác; Nguyễn Tiến D) và Lại Tuấn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt :

Bị cáo Nguyễn Văn D (tên gọi khác; Nguyễn Tiến D): 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là 09/ 5/2021.

Bị cáo Lại Tuấn T 13(mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là 09/5/2021.

- Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư bên trong có 0,1 gam ma túy, 01 chai nhựa trong suốt có nắp màu xanh trên được gắn một ống hút bằng nhựa và 01 coóng thủy tinh một đầu có hình bầu tròn, một chiếc bật lửa màu trắng thu của các bị cáo Nguyễn Văn D và Lại Tuấn T. Chi tiết thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2001 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Q.

Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn D và Lại Tuấn T mỗi bị cáo phải chịu án phí HSST là 200.000đ (Hai trăm ngàn) đồng

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Tỉnh Nghệ An. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TA Tỉnh Nghệ An;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND tỉnh Nghệ An.

- VKSND h Q;

- Công an h Q;

- Những người tham gia tố tụng;

(Đã ký)

- Chi cục THADS h Q;

- Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên; -UBND xã B, h T, Thái Nguyên.

ĐÀO VĂN ĐẠT

- Lưu hồ sơ vụ án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Đào

Lƣơng Văn Công

Đào Văn Đạt Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- PGĐ kiểm tra TA Tỉnh Nghệ An;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND tỉnh Nghệ An.

- VKSND huyện Quỳ Hợp;

- Công an huyện Quỳ Hợp;

- Những người tham gia tố tụng;

- Chi cục THADS huyện Quỳ Hợp;

- Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; -UBND thị trấn Quỳ Hợp.

ĐÀO VĂN ĐẠT

- Lưu hồ sơ vụ án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tƣờng

Nguyễn Thị Hƣờng

Đào Văn Đạt Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- PGĐ kiểm tra TA Tỉnh Nghệ An;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND tỉnh Nghệ An.

- VKSND huyện Quỳ Hợp;

- Công an huyện Quỳ Hợp;

- Những người tham gia tố tụng;

- Chi cục THADS huyện Quỳ Hợp;

- Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; -UBND xã Châu Quang.

ĐÀO VĂN ĐẠT

- Lưu hồ sơ vụ án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thế Quế

Nguyễn Lê Vinh Hƣơng

Đào Văn Đạt

Cỡ chữ