- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngải Tân H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2021/HS-ST Ngày: 27/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Phong
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Giàng A Sinh
Bà Giàng Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Công Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2021/TLST-HS ngày 10/9/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Ngải Tân H (Tên gọi hác: Không); Sinh năm 1982; Tại huyện T, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngải Cao S (Sinh năm: 1961) và bà Giàng Cơ M (Sinh năm: 1964); Có vợ là Liều Dìn S (Sinh năm 1982) và 04 người con, con lớn nhất 19 tuổi, con nhỏ nhất 13 tuổi; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/7/2021 đến ngày 07/8/2021, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/8/2021 đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Mai Thị Thanh Liêm - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 29/7/2021 Ngải Tân H mang theo 400.000 đồng đi bộ từ nhà đến khu vực khe suối thuộc bản Tà Hàng, xã Mường Toong, huyện Mường Nhé để chăn trâu và tìm mua ma túy sử dụng. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang ở khe suối chăn trâu Ngải Tân H gặp được một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt và hỏi mua được của người đàn ông đó 02 gói Heroine với giá 400.000 đồng. Mua bán xong người đàn ông đó đi đâu H không biết, còn H cầm số Heroine vừa mua được cho vào túi quần bên trái và tiếp tục chăn trâu. Đến 19 giờ 50 phút cùng ngày, H đi bộ đến đầu bản Tà Hàng, xã Mường Toong, huyện Mường Nhé thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy trên. H khai nhận mục đích mua số Heroine là để sử dụng cho bản thân vì nghiện ma túy.
Ngày 30/7/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Nhé cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và ra quyết định trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định số 919/GĐ-PC09 ngày 07/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Ngải Tân H gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine; Khối lượng vật chứng thu giữ của Ngải Tân H là 0,54 gam.
Bản cáo trạng số: 40/CT-VKS-MN ngày 09/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Ngải Tân H để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát duy trì công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Ngải Tân H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo; Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,43 Heroine còn lại sau khi trích gửi giám định; Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng, tình tiết giảm nhẹ, án phí và xử lý vật chứng. Về hình phạt, đề nghị HĐXX xem xét hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là đồng bào dân tộc thiểu số, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế, đề nghị xử phạt bị cáo 01 năm tù.
Tại phiên tòa, bị cáo Ngải Tân H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, nhất trí với luận cứ bào chữa của luật sư cũng như luận tội của Viện kiểm sát và không có ý kiến bổ sung gì thêm. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Tại phiên tòa bị cáo khai ngày 29/7/2021 bị cáo mua được 02 gói Heroine với giá 400.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) ở bản Tà Hàng, xã Mường Toong, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Mục đích bị cáo mua Heroine là để sử dụng vì bản thân nghiện ma túy. Sau khi mua được Heroine bị cáo cho vào túi quần bên trái đang mặc trên người. Đến 19 giờ 50 phút cùng ngày, bị cáo đi bộ đến đầu bản Tà Hàng, xã Mường Toong, huyện Mường Nhé thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Ngải Tân Hồ đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép ma túy với khối lượng là 0,54 gam Heroine.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân.Vì vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt đối với bị cáo:
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo 01 năm tù. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó không chấp nhận đề nghị của người bào chữa về việc xử phạt bị cáo 01 năm tù, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt cao hơn để răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo còn nhiều khó khăn, không có tài sản gì có giá trị (Theo biên bản xác minh tài sản ngày 06/8/2021, tại bút lục số 69). Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo: Quá trình điều tra không xác định được người này là ai? Ở đâu, do đó không có cơ sở để xử lý.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,43 gam Heroine còn lại sau trích gửi giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí. Do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331,332,333 BLTTHS, bị cáo có quyền kháng cáo bản án.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 331, 332, 333 BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Ngải Tân H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngải Tân H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ là 09 ngày.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 0,43 gam Heroine là vật chứng vụ án Ngải Tân H. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/9/2021 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.
3. Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ngải Tân H.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA (TA tỉnh); - VKSND huyện Mường Nhé; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Cơ quan ĐT Công an huyện Mường Nhé; - Cơ quan THAHS Công an huyện Mường Nhé; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA.H Mường Nhé; - Bị cáo; Người bào chữa; - THADS huyện Mường Nhé; - Phòng Hành chính Sở Tư pháp; - Lưu HS, HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Phong |