vanban.org

Bản án 50/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 27/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hửu Đ (tên gọi khác: Nguyễn Hữu Đ) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hửu Đ (tên gọi khác: Nguyễn Hữu Đ) 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 13/5/2021. Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 50/2021/HS-ST Tuyên án 27/09/2021
Phúc thẩm Bản án 264/2021/HSPT-QĐ Tuyên án 23/11/2021

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu D 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hửu Đ (tên gọi khác: Nguyễn Hữu Đ) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỒNG NGỰ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2021/HS-ST
Ngày: 27-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Hải.

Ông Nguyễn Tuấn Lam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tưởng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2021/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2021/HSST-QĐ ngày 15 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Hửu Đ (tên gọi khác: Nguyễn Hữu Đ), sinh năm 1988 tại huyện HN, tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: xã LK, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phước T1 và bà Dương Thị Mỹ T2; Có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: ngày 13/5/2021; tạm giam: ngày 19/5/2021; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hồng Ngự; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Nguyễn Hữu Ph, Nguyễn Hồng H, Nguyễn Hồng Th; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ, ngày 07/02/2019, Công an huyện Hồng Ngự phối hợp với Tổ công tác Công an các xã LKA và LKB tuần tra trên địa bàn 2 xã. Khi Tổ công tác tuần tra đến khu vực xã LK, huyện HN thì phát hiện Nguyễn Hửu Đ điều khiển xe mô tô biển số 66R1-395.81 có biểu hiện nghi vấn nên ra lệnh dừng phương tiện kiểm tra. Qua kiểm tra, Tổ công tác phát hiện Đ giấu 01 bịch nylon màu trắng, được hàn kín hai đầu bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng trên nón kết màu xám trắng (nghi là chất ma túy) nên Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ chất nghi là ma túy. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì Đ bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 21/03/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hồng Ngự ra lệnh truy nã và ngày 13/5/2021 Đ bị bắt theo lệnh truy nã.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) bịt nylon màu trắng được hàn kín hai đầu bên trong có chứa các chất tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy), được niêm phong trong bì thư còn nguyên vẹn, có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hồng Ngự và các chữ ký ghi họ tên Trương Quốc T3, Nguyễn Hồng H, Nguyễn Hồng Th và Nguyễn Hửu Đ.

- 01 (một) xe mô tô biển số 66R1-395.81, số máy JL1P39FMB003317, số khung VHTDCB013HT00317, xe đã qua sử dụng, xe không giấy.

- 01 (một) cái nón kết màu xám trắng.

- 01 (một) cái mũ bảo hiểm màu xanh đen.

- 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu ITEL, màu đen đã qua sử dụng.

- Tiền Việt Nam 126.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 120/KL-KTHS, ngày 10/02/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín, được niêm phong trong bì thư nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,921 gam, loại Methamphetamine (số thứ tự 323 thuộc Danh mục II, Nghị định 73, ngày 15/5/2018 của Chính phủ).

Hoàn trả mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì, có khối lượng 0,838 gam, được niêm phong số 108, ngày 08/02/2019, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Thắng E, Nguyễn Nhạc Tiểu Ch, Trương Quốc T và Nguyễn Hửu Đ.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Hửu Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, khai nhận số ma túy Hửu Đ mua của người tên B (không rõ họ, chữ lót, địa chỉ) số tiền 700.000 đồng, sau khi mua ma túy Hửu Đ cất trên nón kết màu xám trắng, mục đích để sử dụng.

Tại Cáo trạng truy tố số 43/CT-VKSHN ngày 02 tháng 8 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Nguyễn Hửu Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phần luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Căn cứ lời khai bị cáo, lời khai của những người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận số ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,921 gam là của Nguyễn Hửu Đ tàng trữ để sử dụng. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là thành khẩn khai báo, người thân của bị cáo có công với cách mạng, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Kiểm sát viên đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hửu Đ từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Không phát sinh nên không đề cập đến. Về vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy gồm: Phong bì niêm phong số 108, ngày 08/02/2019; 01 (một) cái nón kết màu xám trắng; 01 (một) cái mũ bảo hiểm màu xanh đen. Tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước gồm: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu ITEL, màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô biển số 66R1-395.81, số máy JL1P39FMB003317, số khung VHTDCB013HT00317, xe đã qua sử dụng. Trả lại cho Nguyễn Hửu Đ số tiền 126.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất với cáo trạng truy tố, xin Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hửu Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự, như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

..............................................................

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

.............................................................. ”

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận biết được sử dụng ma túy không có tác dụng cho con người, bị cáo hoàn toàn nhận thức được ma túy là chất độc hại, Nhà nước nghiêm cấm mọi hoạt động sản xuất, mua bán, tàng trữ…. trái phép chất ma túy. Nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, người thân của bị cáo có công với cách mạng, gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Do đó, áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Đối với người tên B, không rõ họ chữ lót và nơi cư trú cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hồng Ngự chưa làm việc được, khi nào làm việc được xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Không phát sinh, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về xử lý vật chứng, tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm: Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hửu Đ (tên gọi khác: Nguyễn Hữu Đ) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hửu Đ (tên gọi khác: Nguyễn Hữu Đ) 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 13/5/2021.

4. Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

4.1. Tịch thu tiêu hủy: Mẫu tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì, có khối lượng 0,838 gam, được niêm phong số 108, ngày 08/02/2019, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Thắng E, Nguyễn Nhạc Tiểu Ch, Trương Quốc T3 và Nguyễn Hửu Đ.

4.2. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái mũ bảo hiểm màu xanh đen.

4.3. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái nón kết màu xám trắng.

4.4. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu ITEL, màu đen đã qua sử dụng.

4.5. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 66R1-395.81, số máy JL1P39FMB003317, số khung VHTDCB013HT00317, xe đã qua sử dụng, đã qua sử dụng.

Những vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06 tháng 9 năm 2021.

4.6. Trả lại cho Nguyễn Hửu Đ số tiền 126.000 đồng. (Hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý theo Biên lai thu tiền số: AN/2010/004925 ngày 06 tháng 9 năm 2021)

5. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Hửu Đ (tên gọi khác: Nguyễn Hữu Đ) phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/9/2021).

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ