vanban.org

Bản án 50/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 16/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trần Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị cáo Trần Minh T đã bồi thường xong số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng cho gia đình bị hại, gia đình bị hại không yêu cầu bồi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2021/HS-ST
Ngày: 16 - 9 -2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thiều Thị Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Hữu Thiện;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Đào.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ba Thị Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Biết, Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần Minh T, sinh năm 1993 tại tỉnh Tây Ninh.

Hộ khẩu thường trú : Ấp Phước H, xã Phước N, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Tấn Th (đã chết) và bà Phan Thị M; vợ Huỳnh Ái B và có 01 người con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không có; Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26-02-2021 cho đến nay; bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Ông Trần Anh K, sinh năm: 1970; Hộ khẩu thường trú: Ấp Phước H, xã Phước N, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Người đại diện hợp pháp của ông K:

Bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1975; Anh Trần Khương O, sinh năm 1992 và chị Trần Thị Ngọc Th, sinh năm: 1993.

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp Phước H, xã Phước N, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 23/12/2020 Trần Minh T điều khiển xe mô tô biển số 85D- 434.34 lưu thông trên đường nhựa liên xã theo hướng ấp Bàu Dài, xã Phước N, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh về hướng xã Chà Là, Huyện Dương Minh Châu, khi đến khu vực Ấp Phước H, xã Phước N, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. T điều khiển xe mô tô vượt qua xe tải không quan sát và đảm bảo an toàn nên lấn sang lề trái va chạm với xe mô tô biển số 70E1-213.99 do ông Trần Anh K, sinh năm 1971 ngụ tại Ấp Phước H, xã Phước N, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước khi đã chuyển hướng từ phần đường bên phải sang phần đường bên trái, hậu quả làm ông K tử vong.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, Trần Minh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 2004/KL-KTHS ngày 19-01-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: nguyên nhân tử vong của nạn nhân Trần Anh K do chấn thương sọ não.

Tại Kết luận giám định pháp y về hóa pháp số: 28/30/2021/HP ngày 30/12/2020 của Phân viện pháp y Quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận trong mẫu máu vụ Trần Anh K gửi tới giám định không tìm thấy Ethanol và Methanol.

Kết quả xét nghiệm Bệnh viện đa khoa Lê Ngọc Tùng ngày 23/12/2020 kết luận: Nồng độ cồn trong máu của Trần Minh T 217mg/100 ml máu;

Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo Trần Minh T đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Trần Anh K số tiền 100.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của nạn nhân đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số 36/CT-VKS- DMC ngày 17 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Trần Minh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 50, 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Minh T từ 24 (hai mươi bốn) đến 30 (ba mươi) tháng tù.

Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận đã bồi thường xong gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về xử lý vật chứng: đã xử lý xong.

Bị cáo Trần Minh T thừa nhận Cáo trạng truy tố là đúng với hành vi của bị cáo. Bị cáo không tranh luận.

Đại diện hợp pháp của bị hại thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin lỗi gia đình bị hại và mong được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện: Trần Minh T điều khiển xe mô tô biển số 85D1-434.34 lưu thông trên đường nhựa tại đoạn đường liên xã thuộc khu vực Ấp Phước H, xã Phước N, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh trong người có nồng độ cồn (217mg/dl) trong máu vượt mức quy định đã điều khiển xe vượt không đảm bảo an toàn nên lấn sang phần đường bên trái va chạm vào xe mô tô biển số 70 E-213.99 do ông Trần Anh K điều khiển, hậu quả làm ông K bị tử vong do chấn thương sọ não.

Bị cáo Trần Minh T điều khiển xe tham gia giao thông nhưng trong người có nồng nộ cồn (217mg/dl) khi vượt lên trên không đảm bảo an toàn lấn sang phần đường của người khác là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống tác hại của rượu, bia gây thiệt hại cho tính mạng của ông K, gây hậu quả nghiêm trọng làm chết người. Do vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ và gây hậu quả chết người. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, thấy rằng: Bị cáo nhận thức rõ việc điều khiển xe mô tô khi tham gia giao thông trong người có nồng độ cồn (217mg/dl máu) không làm chủ được tay lái và không xử lý được tình huống, nguyên nhân chính gây ra tai nạn là do bị cáo. Do đó cần xử lý nghiêm bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm, cần áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo và xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tính răn đe và phòng chống tội phạm.

Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo là có căn cứ.

Khi quyết định hình phạt, có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, cụ thể:

Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và nhận thấy hành vi sai trái của mình; đã bồi thường xong cho gia đình bị hại, gia đình của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, không yêu cầu bồi thường gì thêm, thể hiện được sự tự nguyện hòa giải giữa các bên, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Có căn cứ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Các biện pháp tư pháp:

Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo T đã bồi thường số tiền 100.000.000 đồng cho gia đình bị hại, gia đình của bị hại không yêu cầu gì thêm.

Về án phí hình sự sơ thẩm trong vụ án: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Trần Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

2. Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị cáo Trần Minh T đã bồi thường xong số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng cho gia đình bị hại, gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.

3. Về án phí: Bị cáo Trần Minh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ