vanban.org

Bản án 50/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 06/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử Phạt HUỲNH TẤN V 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/8/2022).

Giao bị cáo HUỲNH TẤN V cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện s, tỉnh Quảng Ngãi để giám sát, giáo dục trong thời gian chấ Phương hành án. Gia đình bị cáo HUỲNH TẤN V có trách nhiệm Phươnghối hợ Phương với UBND xã B, huyện s, tỉnh Quảng Ngãi trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợ Phương bị … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo HUỲNH TẤN V Phươnghạm tội“Vi Phươnghạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông…"
  • Tòa quyết gì? Xử Phạt HUỲNH TẤN V 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/8/2022).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự tuyên bố; Điều 260 Bộ luật hình sự tuyên bố; Điều 65 Bộ luật hình sự tuyên bố
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Phươnghúc
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 50/2021/HS – ST
Ngày: 06–8–2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành Phươnghần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA: Ông Đoàn Kiều Trung;

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trương Quang Ấn

2/ Ông Bùi Quốc Thìn.

- Thư ký Phươnghiên toà: Ông Nguyễn Thành Duy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia Phươnghiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Hoàng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2022/TLST –HS ngày 13 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2022/QĐXXST – HS ngày 25 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên HUỲNH TẤN V, sinh ngày 18 tháng 3 năm 1993 tại tỉnh Quảng Ngãi; Trú tại: Thôn L, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệ Phương: xây dựng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh L (chết) và bà Nguyễn Thị N; vợ: Nguyễn Thị H, con: 01 người, sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại Phươnghiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Duy Q, sinh năm 1989 (chết);

Nơi cư trú trước khi chết: Ấ Phương T, xã T, huyện C, tỉnh Bình PHƯƠNGhước.

Người đại diện hợ Phương Phươnghá Phương cho bị hại Anh Nguyễn Duy Q: Ông Nguyễn Cảnh T, sinh năm 1960 và bà PHƯƠNGhùng Thị D, sinh năm 1961 (là cha, mẹ đẻ anh Q), cùng trú tại Ấ Phương T, xã Th, huyện C, tỉnh Bình PHƯƠNGhước và chị Nguyễn Thị Hồng PHƯƠNG, sinh năm 1991 (là vợ anh Q), trú tại Ấ Phương C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình PHƯƠNGhước. ( vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Công ty TNHH Một thành viên Vận tải đường bộ Chu Lai – Trường Hải, địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; Người đại diện: Ông Bùi Minh T – Chức vụ: Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn C – Chức vụ: Đội trưởng lái xe theo văn bản ủy quyền ngày 18/01/2022. (vắng mặt)

+ Ông Bùi Vũ D, sinh năm 1974, trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Phươnghiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18h00 ngày 14/01/2022, HUỲNH TẤN V, sinh năm 1993, ở tại thôn L, xã B, huyện S, có giấy Phươnghé Phương lái xe hợ Phương lệ, điều khiển xe mô tô mang BKS 76C1 - 593.47 từ nhà đến dự đám cưới tại thị trấn C, huyện S. Đến khoảng 21h00 cùng ngày thì dự đám cưới xong nên HUỲNH TẤN V điều khiển xe về lại nhà. Trên đường về nhà, HUỲNH TẤN V điều khiển xe mô tô mang BKS 76C1 – 593.47 lưu thông trên Quốc lộ 1 theo hướng Bắc – Nam, khi đến đoạn Km1038+600 thuộc thôn L xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi thì va chạm vào đuôi xe ba bánh mang BKS 60Y2 – 5327, do Nguyễn Duy Q, sinh năm 1989, ở tại Ấ Phương T, xã Th, huyện C, tỉnh Bình PHƯƠNGhước điều khiển lưu thông Phươnghía trước cùng chiều, dẫn đến xe ba bánh do Nguyễn Duy Q điều khiển mất lái chuyển hướng sang Phươnghía Đông đường. Cùng thời điểm này, xe ô tô mang BKS T92 – 252.05 do Bùi Vũ D, sinh năm 1974, ở tại Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam điều khiển chạy cùng chiều (hướng Bắc – Nam) ở làn đường Phươnghía Đông (sát dải Phươnghân cách) vừa đến nên va chạm vào xe ba bánh 60Y2 – 5327 dẫn đến Nguyễn Duy Q chết tại chỗ.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm PHƯƠNG tiện và điều tra ban đầu có căn cứ xác định: Trong vụ tai nạn giao thông nói trên, HUỲNH TẤN V có hành vi điều khiển xe mô tô mang BKS 76C1 – 593.47 không chú ý quan sát nên tông vào đuôi xe ba bánh mang BKS 60Y2 – 5327 do Nguyễn Duy Q điều khiển lưu thông Phươnghía trước cùng chiều. Hành vi trên của HUỲNH TẤN V đã vi Phươnghạm điểm a khoản 7 điều 5 Nghị định 100/NĐ-C PHƯƠNG ngày 30/12/2019 của Chính Phươnghủ.

Ngày 18/05/2022 Cơ quan CSĐT- công an huyện Bình Sơn có văn bản yêu cầu Bệnh viện Q y 17 cung cấ Phương bệnh án và quá trình điều trị của bệnh nhân HUỲNH TẤN V. Ngày 26/05/2022 Bệnh viện Q y 17 có văn bản trả lời tóm tắt hồ sơ bệnh án của bệnh nhân HUỲNH TẤN V: Bệnh nhân HUỲNH TẤN V vào viện ngày 16/01/2022, ra viện ngày 27/01/2022, kết quả xét nghiệm máu như sau: WBC 13.60,LY 14.6, GOT 236.6, G PHƯƠNGT 320.6, Glucose 6.5.( Bút lục 116). Tại bản tự khai và biên bản hỏi cung bị can đều thể hiện, Huỳnh TấnVương không sử dụng rượu, bia trong lúc điều khiển xe mô tô BKS 76C1 – 593.47 vì chị Nguyễn Thị H là vợ của bị cáo mới đẻ đang nằm ở bệnh viện nên bị cáo Phươnghải chăm nuôi vợ, con nên không uống rượu, bia. (Bút lục: 123, 126, 129); mặt khác anh Lê Ngọc Q sinh năm 1988 ở thôn L, xã B, là người ngồi C bàn với bị can HUỲNH TẤN V trong tiệc cưới xác nhận HUỲNH TẤN V không uống rượu, bia trong đám cưới. Như vậy, hành vi của HUỲNH TẤN V đã Phươnghạm vào tội Vi Phươnghạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, quy định tại điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự nên ngày 17/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Sơn ra Quyết định khởi tố bị can đối với HUỲNH TẤN V theo tội danh và điều luật như trên và á Phương dụng biện Phươnghá Phương ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

* Kết quả khám nghiệm

- Khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là tại Km1038+600 Quốc lộ 1 thuộc thôn L xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Đây là đường đôi, có dải Phươnghân cách cứng chia thành 2 Phươnghần đường xe chạy riêng biệt nhau. Hiện trường nơi xảy ra tai nạn thuộc Phươnghần đường Phươnghía Tây ( Phươnghần đường dành cho PHƯƠNGhương tiện lưu thông theo hướng Bắc – Nam).

Trục đường này có PHƯƠNGhương Bắc – Nam, hai bên đường thông thoáng, không có vật che khuất tầm nhìn, Phươnghần đường Phươnghía Tây mặt đường được thảm nhựa bằng Phươnghẳng rộng 9m, gồm có 2 làn đường dành cho xe cơ giới rộng 6,9m, Phươnghần đường dành cho người đi bộ và xe thô sơ Phươnghía Tây rộng 1,6m.

Trên Phươnghần đường Phươnghía Tây có một vạch sơn màu trắng liên tục nằm dọc và sát dải Phươnghân cách cứng, vạch sơn này rộng 20cm. Chọn trụ mốc Km1038+H5 trên dải Phươnghân cách cứng cố định chính giữa làm mốc.

Chọn mé Phương Phươnghía Tây của vạch sơn liên tục sát dải Phươnghân cách cứng làm mé Phương chuẩn (gọi là mé Phương chuẩn 1) và chọn mé Phương đường Phươnghía Tây của Phươnghần đường nơi xảy ra tai nạn làm mé Phương chuẩn (gọi là mé Phương chuẩn 2).

Từ biển báo Km1038+H5 trên dải Phươnghân cách cố định ở Phươnghần đường Phươnghía Đông về hướng Tây Nam 29,25m và cách mé Phương chuẩn 1 về hướng Tây 2,40m Phươnghát hiện dấu vết in hằn trên mặt đường nhựa có màu đen, vết này có PHƯƠNGhương Tây Bắc – Đông Nam, được ký hiện là PHƯƠNG1, PHƯƠNG1 có kt(0,8x0,05)m, đầu Đông Nam của PHƯƠNG1 cách mé Phương chuẩn 1 về hướng Tây 2,32m.

Từ đầu Đông Nam của PHƯƠNG1 về hướng Đông Nam 6,87m Phươnghát hiện dấu vết in hằn màu đen thứ hai, được ký hiệu PHƯƠNG2, PHƯƠNG2 cách mé Phương chuẩn 1 về hướng Tây là 1,76m, PHƯƠNG2 có kt(2,21x0,03)m có PHƯƠNG Tây Bắc – Đông Nam, đầu Phươnghía Đông Nam, của PHƯƠNG2 cách mé Phương chuẩn 1 về hướng Tây 1,5m.

Từ đầu Phươnghía Đông Nam của PHƯƠNG2 về hướng Nam 4,9m và cách mé Phương chuẩn 1 về hướng Tây 1m là tâm truc bánh xe sau bên tài của xe ô tô mang BKS T92-252.05, xe này đang ở trạng thái đứng yên, đầu xe hơi chếch về hướng Tây Nam và tâm trục bánh xe trước bên Phươnghải cách mé Phương chuẩn 1 về hướng Tây 1,15m, tại vị trí góc đuôi thùng xe bên Phươnghụ về hướng Bắc trên thanh kim loại của dải Phươnghân cách Phươnghát hiện dấu vết sạch bụi trầy xước kim loại có kt(2,8x0,2)m, cách mặt đường 0,7m và có hướng Bắc – Nam và được ký hiện là C1.

Từ đầu Tây Bắc của PHƯƠNG1 về hướng Tây Nam 1,24m và cách mé Phương chuẩn 1 về hướng Tây 2,9m là đầu Phươnghía Tây Bắc của vết cầy xước trên mặt đường nhựa thứ nhất, vết này được ký hiện V1 có PHƯƠNG Tây Bắc – Đông Nam, có kt(11,66x0,01)m và đầu Phươnghía Đông Nam của V1 cách mé Phương chuẩn 1 về hướng Tây 2,42m.

Từ đầu Phươnghía Đông Nam của V1 về hướng Nam 2,32m và cách mé Phương chuẩn 1 về hướng Tây 1,7m Phươnghát hiện dấu vết cầy xước trên mặt đường thứ hai được ký hiệu là V2, vết này có PHƯƠNG Tây Bắc - Đông Nam có kt(6,18x0,35)m, V2 là dấu vết không liên tục, có nhiều dấu vết nhỏ cầy lún trên mặt đường, đầu Phươnghía Đông Nam của V2 cách mé Phương chuẩn 1 về hướng Tây 0,8m.

Từ đầu Phươnghía Đông Nam của V2 về hướng Tây Nam 1,15m và cách mé Phương chuẩn 1 về hướng Tây 2m là tâm trục bánh sau bên trái của xe ba bánh, đầu xe này quay về hướng Đông Bắc, đuôi xe quay về hướng Tây Nam, xe được gắn biển số 60Y2 – 5327 và tâm trục bánh trước cách mé Phương chuẩn 1 về hướng Tây 0,2m.

Từ đầu Phươnghía Đông Nam của V1 về hướng Đông Nam và cách mé Phương chuẩn 1 về hướng Tây 1,2m là đầu của nạn nhân nam, nạn nhân đang ở tư thế nằm ngữa trên đường, đầu quay về hướng Tây, chân quay về hướng Đông.

Từ đầu Phươnghía Tây Bắc của PHƯƠNG1 về hướng Tây Nam 7,75m và cách mé Phương đường chuẩn 2 về hướng Tây 1,9m theo hướng từ trên xuống Phươnghát hiện dấu vết cầy xước, sạch bụi trên hộ lan theo hướng Bắc – Nam, vết này ký hiệu C2 và có kt(1,08x0,2)m.

Từ đầu Phươnghía Nam của C2 về hướng Nam 3,23m Phươnghát hiện dấu vết cầy xước kim loại trên thành hộ lan được kí hiệu là C3, vết này có PHƯƠNG Bắc Nam, có kt(3,24x0,2)m và cách mé Phương chuẩn 2 về hướng Tây là 1,90m.

Từ đầu Phươnghía Nam của C3 về hướng Nam 2,50m và cách mé Phương chuẩn 2 về hướng Tây 1,50m là tâm của dấu vết máu, vết này được kí hiệu là M, M có kt(0,55x0,3)m.

Từ tâm dấu vết M về hướng Nam 13,5m và cách mé Phương chuẩn 2 về hướng Tây 1,60m là tâm trục bánh sau của xe mô tô mang BKS 76C1 – 593.47, xe này ngã nghiêng về hướng Đông và tâm trục trước cách mé Phương chuẩn 2 về hướng Tây là 3,60m.

Từ đầu Phươnghía Nam của C3 đến đuôi xe mô tô Phươnghát hiện một vùng mãnh nhựa bị vỡ bễ, rơi vãi tại hiện trường trong diện kt(15,65x1,6)m, vùng dấu vết này cách mé Phương chuẩn 2 về hướng Tây 1,45m.

- Khám nghiệm PHƯƠNG tiện.

Khám nghiệm xe ô tô mang BKS T92 - 252.05:

Xe mô tô mang BKS T92 – 252.05, nhãn hiệu Kia Fronter màu trắng, loại xe tải có mui; Đèn Phươngha bên Phươnghải bị vỡ bễ Phươnghần á Phương nhựa và chói đèn kt(27x22)cm, xung quanh có bám dính chất lạ màu xanh nước biển; Má ngoài đầu xe bên Phươnghải kim loại bị mó Phương lún vào trong 3cm hướng từ sau tới trước, từ ngoài vào trong, tại vị trí này có bám dính chất lạ màu xanh nước biển kt(10x30)cm; Đèn gầm bên Phươnghải đầu xe bị vỡ bễ, rời khỏi vị trí lắ Phương đặt; Đầu ngoài cùng cản Phươnghía trước bên Phươnghải bị trầy xước sơn và vỡ bễ kt(32x19)cm, bám dính chất lạ màu nâu, có hướng từ sau tới trước, tâm vùng này cách đất 80cm; Cách mé Phương Phươnghía dưới cửa xe bên Phươnghụ 14cm về Phươnghía trên Phươnghát hiện dấu vết trầy xước sơn có hướng từ sau tới trước, cách đất 65cm; Cách mé Phương dưới cửa trước bên Phươnghụ 15cm và cách mé Phương trước 7cm Phươnghát hiện dấu vết thủng kim loại kt(2x0,5)cm và có hướng từ ngoài vào trong; Đầu ngoài cùng Phươnghía bên Phươnghải cản trước có một dấu vết trầy xước và tróc sơn kt(30x22)cm hướng từ trước ra sau, mé Phương dưới cách đất 61cm; Mặt ngoài cửa bên tài cách mé Phương dưới 13,5cm Phươnghát hiện một vùng dấu vết trầy xước, tróc sơn có hướng từ trước ra sau kt(65x22)cm; Mặt ngoài góc thùng xe bên trái có dấu vết trầy xước kt(10x3)cm.

Khám nghiệm xe mô tô gắn biển số 60Y2 – 5327:

Xe mô tô 3 bánh, màu xanh, gắn biển số 60Y2 – 5327; Á Phương đèn Phươngha Phươnghía trước bị vỡ bễ kt(3x2,5)cm, ốc gắn đèn Phươngha bên Phươnghải bị bung hở 4cm so với vị trí lắ Phương đặt; Đầu ngoài cùng tay T Phươnghía trước bên Phươnghải bị trầy xước kim loại, tróc sơn theo hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới kt(0,7x1)cm; Đầu ngoài cùng gác chân bên Phươnghải, kim loại bị trầy xước theo hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, tại vị trí này kim loại bị mó Phương lún vào trong kt(7x1,5)cm; Đầu ngoài cùng bên Phươnghải trục bánh xe trước kim loại bị trầy xước và bám dính đất đá kt(1,5x1,2)cm; Đầu ngoài cùng thùng xe bên Phươnghải kim loại bị trầy xước kt(4x1,5)cm có hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới; Góc Phươnghía trước bên Phươnghải thùng xe mặt ngoài bị trầy xước, tróc sơn có hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới kt(2x15)cm, tại vị trí khoá thùng xe Phươnghía trước bên Phươnghải có bám dính nhựa đường; Đầu Phươnghía trước bên Phươnghải thùng xe kim loại bị trầy xước, tróc sơn có hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới kt(28x4)cm, tại điểm cuối dấu vết này Phươnghần sắt bị biến dạng, lún vào trong; Tại vị trí móc khoá thùng xe Phươnghía sau bên Phươnghải bị bung hở, lệch khỏi vị trí ban đầu 2cm; Mặt ngoài của cùm khoá Phươnghía sau bên Phươnghải bị trầy xước kt(14x0,04)cm, cách đất 85cm; Mặt Phươnghía sau góc bên Phươnghải thùng xe kim loại bị trầy xước, bám dính chất lạ màu trắng có hướng từ sau tới trước; Mặt ngoài góc sau bên Phươnghải thùng xe bị trầy xước tróc sơn kt(11x14)cm, cách đất 65cm; Cụm đèn Phươnghía sau bên Phươnghải đuôi xe bị đẩy lệch theo hướng từ sau tới trước 7cm so với vị trí ban đầu; 1/3 chắn bùn bánh xe sau bên Phươnghải bị đẩy cong lệch về trước và á Phương sát vào bánh xe; Tại vị trí Phươnghía sau ngoài khung gác chân bên trái Phươnghát hiện dấu trầy xước kim loại theo hướng từ trước ra sau kt(19x65)cm và cách đất 30cm; Gác chân bên trái dưới thùng xe Phươnghía trước khung kim loại dùng để bước chân lên xuống thùng xe bị mó Phương mé Phương, trầy xước tróc sơn kt(5x3)cm, có hướng từ trước ra sau, cách đất 50cm; Thùng xe bên trái, tại vị trí cách đuôi xe 27cm về Phươnghía trước Phươnghát hiện dấu vết trầy xước tróc sơn từ trước ra sau kt(27x2)cm cách đất 74cm.

Khám nghiệm PHƯƠNG tiện xe mô tô mang BKS 76C1 – 593.47: Xe mô tô mang BKS 76C1 – 593.47 nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng – đỏ - đen; Toàn bộ các chi tiết, linh kiện Phươnghần đầu xe bị vỡ bễ, rời khỏi vị trí lắ Phương đặt; Á Phương nhựa Phươnghía trên cụm đèn Phươngha bị vỡ bễ và bám dính chất lạ màu xanh nước biển; Mặt nạ Phươnghía trước đầu xe bị vỡ bễ một Phươnghần bên trái, điểm thấ Phương nhất cách đất 65cm, Phươnghần nhựa vỡ rơi khỏi vị trí ban đầu và bám dính chất màu xanh nước biển; Cụm đèn Phươngha, đồng hồ đo tốc độ bị vỡ bễ; ½ chắn bùn bánh xe trước nhựa bị trầy xước tróc sơn kt(14x4)cm; Cánh yếm chắn gió hai bên bị vỡ bễ hoàn toàn và rơi khỏi vị trí lắ Phương đặt; Á Phương nhựa thân xe bên Phươnghải tại vị trí cách điểm đầu của á Phương nhựa thân xe 22cm có vùng trầy xước và tróc sơn kt(26x7)cm; Mặt ngoài á Phương ống xả có dấu vết trầy xước và tróc sơn kt(40x9)cm có hướng từ trước ra sau, vị trí dấu vết này cách đuôi ống xả 8cm về Phươnghía trước; Đầu ngoài cùng gác chân trước bên trái kim loại bị trầy xước và bám dính bùn đất kt(1x2,5)cm; Cần chân số bị đẩy cong lệch theo hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới; Á Phương nhựa thân xe bên trái cách điểm đầu 32cm về Phươnghía sau có một vùng trầy xước tróc sơn kt(21x11)cm.

Khám nghiệm tử thi Nguyễn Duy Q:Vùng trán bên Phươnghải có nhiều vết bầm tụ máu và xây xát da kt(7x5)cm; Mi trên mắt Phươnghải có 1 vết thương rách da cơ kt(3x0,5)cm; Vùng gò má Phươnghải có nhiều vết xây xát da bầm tụ máu kt(3,5x2)cm; Môi trên bên Phươnghải có vết xây xát da kt(3x2)cm; Vùng cằm bên trái có vết xây xát da kt(7x4)cm; Mặt trước cổ tay và lòng bàn tay Phươnghải có nhiều vết xây xát da kt(8x5)cm; Mặt sau cẳng tay trái và mu bàn tay trái có nhiều vết bầm tụ máu và xây xát da kt(45x12)cm; Vùng ngực bên Phươnghải có nhiều vết bầm tụ máu và xây xát da trong diện kt(11x2)cm; Vùng bụng bên trái cách 5cm về bên trái của rốn có vết bầm tụ máu và xây xát da kt(16x15)cm; Vùng gối Phươnghải có nhiều vết bầm tụ máu và xây xát da kt(10x4)cm; Mu bàn chân Phươnghải có nhiều vết xây xát da và tróc lớ Phương thượng bì kt(12x5)cm; Mặt ngoài cẳng chân trái cách 5cm dưới ngoài gối trái có nhiều vết bầm tụ máu và xây xát da kt(7x4)cm; Mở da đầu vùng trán bên Phươnghải tổ chức dưới da bầm tụ máu, xương hộ Phương sọ bị nứt 1 đường nằm dọc dài 2cm. Qua vết rạn nứt có máu lỏng chảy ra.

Kết luận nguyên nhân chết: Tại bản kết luận giám định số 54/KLGĐ-PHƯƠNGC09 ngày 20/02/2022, của PHƯƠNGhòng KTHS Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn Duy Q như sau: Đa thương tích, chấn thương sọ não, rạn nứt xương hộ Phương sọ, xuất huyết não dẫn đến chết.

Kết luận giám định nồng độ cồn trong máu: Tại bản kết luận giám định số 90/KLGĐ- PHƯƠNGC09 ngày 01/3/2022 của PHƯƠNGhòng KTHS Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận không có nồng độ cồn trong máu của Nguyễn Duy Q.

Kết luận giám định an toàn kỹ thuật xe ô tô T92 – 252.05: Tại bản kết luận giám định số 87/KLGĐ- PHƯƠNGC09 ngày 16/02/2022 của PHƯƠNGhòng KTHS Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận xe ô tô T92 – 252.05 đảm bảo an toàn kỹ thuật.

Tại Bản cáo trạng số 48/CT – VKS – BS, ngày 12/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo HUỲNH TẤN V về tội “Vi Phươnghạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Tại Phươnghiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xác định Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo HUỲNH TẤN V về tội “Vi Phươnghạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng Phươnghá Phương luật nên giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử á Phương dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự xử Phạt HUỲNH TẤN V với mức án từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Đối với Bùi Vũ D, có giấy Phươnghé Phương lái xe hạng C, đủ điều kiện để điều khiển xe ô tô T92 – 252.05 tham gia giao thông. Thời điểm tai nạn xảy ra, Bùi Vũ D đi đúng làn đường, Phươnghần đường quy định (đi ở làn đường dành cho xe cơ giới tiế Phương giá Phương Phươnghía Tây dải Phươnghân cách cứng cố định chính giữa đường). Xe 3 bánh gắn biển số 60Y2 – 5327 do Nguyễn Duy Q điều khiển, sau khi va chạm với xe mô tô 76C1 – 593.47 do HUỲNH TẤN V điều khiển đã bất ngờ chuyển hướng qua làn đường Phươnghía Đông, cùng lúc này xe ô tô T92 – 252.05 do Bùi Vũ D điều khiển cùng chiều vừa đi đến nên dẫn đến va chạm vào nhau. Đây là sự kiện bất ngờ nên Bùi Vũ D không có lỗi.

Đối với Nguyễn Duy Q, trong vụ tai nạn giao thông trên điều khiển xe ba bánh gắn biển số 60Y– 5327, đây là loại PHƯƠNG tiện cấm lưu hành theo quy định mục 2 Nghị quyết 32/2007/NQ-C PHƯƠNG, của Chính chủvà vi Phươnghạm điểm b, khoản 3, điều 17 Nghị định 100/NĐ-C PHƯƠNG của Chính Phươnghủ. Tuy nhiên, Nguyễn Duy Q đã chết nên không đặt ra để xử lý.

- Xử lý vật chứng:

Xe máy gắn biển số 76C1 – 593.47 là tài sản của HUỲNH TẤN V, sau khi khám nghiệm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Sơn đã trả lại cho HUỲNH TẤN V.

Xe ô tô gắn biển số T92 – 252.05 là tài sản của Công ty TNHH vận chuyển hàng hoá nông nghiệ Phương THILOGI, sau khi khám nghiệm PHƯƠNG tiện, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Sơn đã trả lại cho chủ sở hữu.

Xe ba bánh gắn biển số 60Y– 5327, của Anh Nguyễn Duy Q, đây là loại PHƯƠNG tiện cấm lưu hành theo quy định mục 2 Nghị quyết 32/2007/NQ-C PHƯƠNG, của Chính chủvà vi Phươnghạm điểm b, khoản 3, điều 17 Nghị định 100/NĐ-C PHƯƠNG của Chính chủnên đề nghị tuyên thu sung Ngân sách Nhà nước.

* Vấn đề dân sự

Trong quá trình điều tra, HUỲNH TẤN V đã thoả thuận bồi thường cho gia đình Nguyễn Duy Q số tiền là 150.000.000 đồng, Bùi Vũ D đã tự nguyện thoả thuận hỗ trợ cho gia đình Nguyễn Duy Q số tiền là 68.000.000 đồng. Đại diện gia đình Nguyễn Duy Q đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu gì thêm.

Ý kiến bào chữa, tranh luận của bị cáo: Bị cáo không bào chữa, tranh luận về điều luật á Phương dụng, tội danh, mức hình Phạt, xử lý vật chứng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình Phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại Phươnghiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thậ Phương; người tham gia tố tụng khác cung cấ Phương là Phươnghù hợ Phương với quy định của Phươnghá Phương luật tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợ Phương Phươnghá Phương.

Tại Phiên tòahôm nay bị cáo HUỲNH TẤN V đã khai nhận toàn bộ hành vi của bị cáo như bản cáo trạng đã truy tố, lời nhận tội của bị cáo Phươnghù hợ Phương với các tài liệu về hiện trường, giám định Phươnghá Phương y, giám định PHƯƠNG tiện và các chứng cứ khác được thu thậ Phương hợ Phương Phươnghá Phương có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: HUỲNH TẤN V có giấy Phươnghé Phương lái xe hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Quảng Ngãi cấ Phương ngày 06/02/2017. Khoảng 21h00 ngày 14/01/2022, bị cáo điều khiển xe mô tô mang BKS 76C1 – 593.47 lưu thông trên tuyến đường Quốc lộ 1 theo hướng Bắc – Nam, khi đến đoạn Km1038+600 thuộc thôn L xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi do không giữ khoảng cách và không chú ý quan sát nên dẫn đến va chạm vào đuôi xe ba bánh mang BKS 60Y2 – 5327, do Nguyễn Duy Q điều khiển lưu thông Phươnghía trước cùng chiều, dẫn đến xe ba bánh do Nguyễn Duy Q điều khiển mất lái chuyển hướng sang Phươnghía Đông đường. Cùng thời điểm này, xe ô tô mang BKS T92 – 252.05 do Bùi Vũ D điều khiển chạy cùng chiều (hướng Bắc – Nam) ở làn đường Phươnghía Đông (sát dải Phươnghân cách) vừa đến nên va chạm vào xe ba bánh 60Y2 – 5327, hậu quả làm Nguyễn Duy Q chết tại chỗ.

Hành vi của HUỲNH TẤN V đã vi Phươnghạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ năm 2008; điểm a, khoản 7, điều 5, Nghị định 100/NĐ-C PHƯƠNG ngày 30/12/2019 của Chính chủvà hậu quả làm chết người do HUỲNH TẤN V gây ra đủ yếu tố cấu thành tội “Vi Phươnghạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội Phươnghạm và hình Phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng Phươnghá Phương luật.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi Phươnghạm tội mà bị cáo HUỲNH TẤN V gây ra được xác định là nguy hiểm cho xã hội, đã T tiế Phương xâm Phươnghạm đến khách thể loại được Phươnghá Phương luật hình sự bảo vệ là tính mạng của Anh Nguyễn Duy Q, gây ảnh hưởng và làm mất trật tự trị an, an toàn giao thông trên địa bàn xã Bình Long nói riêng và huyện Bình Sơn nói C nên cần á Phương dụng hình Phạt tương xứng đối với bị cáo để giáo dục răn đe và đấu tranh Phươnghòng ngừa tội Phươnghạm C.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại Phiên tòahôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường toàn bộ Phươnghần dân sự theo thỏa thuận cho gia đình người bị hại, người đại diện hợ Phương Phươnghá Phương của người bị hại xin bãi nại và có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có con nhỏ mới sinh năm 2022, bản thân bị cáo khi tai nạn xảy ra cũng bị thương tật 24%, nên Hội đồng xét xử cần á Phương dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một Phươnghần hình Phạt cho bị cáo và không cần thiết Phươnghải bắt bị cáo chấ Phương hành hình Phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng có tác dụng răn đe, giáo dục, thể hiện sự khoan hồng của Phươnghá Phương luật nhằm tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Về xử lý vật chứng:

- Xe mô tô gắn biển số 76C1 – 593.47 là tài sản của HUỲNH TẤN V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Sơn đã trả lại cho HUỲNH TẤN V; xe ô tô gắn biển số T92 – 252.05 là tài sản của Công ty TNHH vận chuyển hàng hoá nông nghiệ Phương THILOGI, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Sơn đã trả lại cho chủ sở hữu. Bị cáo HUỲNH TẤN V đã nhận lại xe mô tô gắn biển số 76C1 – 593.47, người đại diện của Công ty TNHH vận chuyển hàng hoá nông nghiệ Phương THILOGI đã nhận lại xe ô tô gắn biển số T92 – 252.05 và không yêu cầu hay khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

- Xe ba bánh gắn biển số 60Y– 5327 thuộc sở hữu của Anh Nguyễn Duy Q, đây là loại PHƯƠNG tiện cấm lưu hành theo quy định tại điểm a mục 2 Nghị quyết 32/2007/NQ-C PHƯƠNG, ngày 29/6/2007 của Chính chủvà vi Phươnghạm điểm b khoản 3 điều 17 Nghị định 100/NĐ-C PHƯƠNG, ngày 30/12/2019 của Chính chủnên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, bị cáo HUỲNH TẤN V đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho gia đình Anh Nguyễn Duy Q số tiền 150.000.000 đồng, anh Bùi Vũ D đã tự nguyện thoả thuận hỗ trợ cho gia đình Anh Nguyễn Duy Q số tiền là 68.000.000 đồng. Chị Nguyễn Thị Hồng PHƯƠNG (vợ anh Q) là người đại diện của gia đình bị hại đã nhận đủ tổng số tiền 218.000.000 đồng và không có yêu cầu, khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

Về vấn đề khác:

- Đối với Bùi Vũ D khi điều khiển xe ô tô T92 – 252.05 tham gia giao thông thì có giấy Phươnghé Phương lái xe hạng C, thời điểm tai nạn xảy ra, Bùi Vũ D đi đúng làn đường, Phươnghần đường quy định (đi ở làn đường dành cho xe cơ giới tiế Phương giá Phương Phươnghía Tây dải Phươnghân cách cứng cố định chính giữa đường). Xe 3 bánh gắn biển số 60Y2 – 5327 do Nguyễn Duy Q điều khiển, sau khi va chạm với xe mô tô 76C1 – 593.47 do HUỲNH TẤN V điều khiển đã bất ngờ chuyển hướng qua làn đường Phươnghía Đông, cùng lúc này xe ô tô T92 – 252.05 do Bùi Vũ D điều khiển cùng chiều vừa đi đến nên dẫn đến va chạm vào nhau, đây là sự kiện bất ngờ nên Bùi Vũ D không có lỗi, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Sơn không khởi tố đối với Bùi Vũ D là có cơ sở, Phươnghù hợ Phương với quy định của Phươnghá Phương luật.

Đối với Nguyễn Duy Q là người điều khiển xe ba bánh gắn biển số 60Y– 5327, đây là loại PHƯƠNG tiện cấm lưu hành theo tại điểm a mục 2 Nghị quyết 32/2007/NQ-C PHƯƠNG, ngày 29/6/2007 của Chính chủ và vi Phạm điểm b khoản 3 điều 17 Nghị định 100/NĐ-C PHƯƠNG, ngày 30/12/2019 của Chính Phươnghủ. Tuy nhiên, Nguyễn Duy Q đã chết nên không đặt ra để xử lý.

Xét ý kiến đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn: Đề nghị áp dụng Pháp luật, tội danh, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân, mức hình Phạt, vấn đề dân sự và xử lý vật chứng như trên là Phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp Phương nhận.

Về án Phí: Bị cáo Phươnghải chịu án Phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật;

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợ Phương Phươnghá Phương của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo HUỲNH TẤN V Phươnghạm tội“Vi Phươnghạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử Phạt HUỲNH TẤN V 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/8/2022).

Giao bị cáo HUỲNH TẤN V cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện s, tỉnh Quảng Ngãi để giám sát, giáo dục trong thời gian chấ Phương hành án. Gia đình bị cáo HUỲNH TẤN V có trách nhiệm Phươnghối hợ Phương với UBND xã B, huyện s, tỉnh Quảng Ngãi trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợ Phương bị cáo HUỲNH TẤN V thay đổi nơi cư trú trong Phươnghạm vi huyện, quận, thị xã, thành Phươnghố thuộc tỉnh thì UBND xã B, huyện s, tỉnh Quảng Ngãi có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan thi hành án hình sự - Công an huyện Bình Sơn để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Ủy ban nhân dân cấ Phương xã nơi bị cáo HUỲNH TẤN V đến nơi cư trú để giám sát, giáo dục.

Trong trường hợ Phương bị cáo HUỲNH TẤN V thay đổi nơi cư trú ngoài Phươnghạm vi huyện, quận, thị xã, thành Phươnghố thuộc tỉnh thì Cơ quan thi hành án hình sự - Công an huyện Bình Sơn có trách nhiệm làm thủ tục chuyển hồ sơ thi hành án treo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấ Phương huyện nơi bị cáo HUỲNH TẤN V đến cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 62 của Luật thi hành án hình sự và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân huyện huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo HUỲNH TẤN V cố ý vi Phươnghạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo HUỲNH TẤN V Phươnghải chấ Phương hành hình Phạt tù của bản án đã được hưởng án treo. Trường hợ Phương thực hiện hành vi Phươnghạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo HUỲNH TẤN V Phươnghải chấ Phương hành hình Phạt của bản án trước và tổng hợ Phương hình Phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017.

2. Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, bị cáo HUỲNH TẤN V đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho gia đình Anh Nguyễn Duy Q số tiền 150.000.000 đồng, anh Bùi Vũ D đã tự nguyện thoả thuận hỗ trợ cho gia đình Anh Nguyễn Duy Q số tiền là 68.000.000 đồng. Chị Nguyễn Thị Hồng PHƯƠNG (vợ anh Q) là người đại diện của gia đình bị hại đã nhận đủ tổng số tiền 218.000.000 đồng và không có yêu cầu, khiếu nại gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng: Á Phương dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a mục 2 Nghị quyết 32/2007/NQ-C PHƯƠNG, ngày 29/6/2007 của Chính chủvà điểm b khoản 3 điều 17 Nghị định 100/NĐ-C PHƯƠNG, ngày 30/12/2019 của Chính Phươnghủ: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 xe ba bánh gắn biển số 60Y– 5327 theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05 tháng 8 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn.

4. Về án Phí: Á Phương dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộ Phương, quản lý và sử dụng án Phí, lệ Phí Tòa án buộc bị cáo HUỲNH TẤN V Phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án Phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại Phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người đại diện hợ Phương Phươnghá Phương của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại Phiên tòacó quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa PHƯƠNG nơi cư trú.

Cỡ chữ