- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng Quốc - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Hoàng Q. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2021/HS-ST ngày 08-4-2021 của Tòa án nhân dân huyện Cù Lao D, tỉnh Sóc Trăng.
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2021/HS-PT. Ngày 24 - 6 - 2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Dũ.
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Hùng Nuôi
Bà Tôn Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Thúy Ngà - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 46/2021/TLPT-HS ngày 18-5-2021 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Q, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2021/HS-ST ngày 08-4-2021 của Tòa án nhân dân huyện Cù Lao D, tỉnh Sóc Trăng.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Hoàng Q, sinh năm: 1979, tại huyện Cù Lao D, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: ấp Đoàn Văn T, xã Đại Ân M, huyện Cù Lao D, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Q tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (còn sống) và bà Hồ Thị N (còn sống); có vợ là Ngô Thanh N; có 01 người con sinh năm 2008; anh chị em ruột: có 10 người, nhỏ nhất là bị cáo; tiền án: không có; tiền sự: không có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/7/2020 đến ngày 29/7/2020 chuyển sang tạm giam cho đến nay (Bị cáo có mặt).
- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Văn N1, Trần Văn N2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng Q, sinh năm 1979, ngụ tại ấp Đoàn Văn T, xã Đại Ân M, huyện Cù Lao D, tỉnh Sóc Trăng là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, nhưng thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy và N1 lần rủ rê các đối tượng khác về nhà của Q cùng sử dụng trái phép chất ma túy.
Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 23/7/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cù Lao D phối hợp Công an xã Đại Ân M, huyện Cù Lao D tiến hành kiểm tra, bắt quả tang Nguyễn Hoàng Q cùng Trần Văn N2, sinh ngày 09/02/2004, ngụ tại ấp Vàm H, xã An Thạnh N, huyện Cù Lao D, tỉnh Sóc Trăng, Võ Văn N1, sinh năm 1988, ngụ tại ấp Lê Minh C, xã An Thạnh Đ, huyện Cù Lao D, tỉnh Sóc Trăng đang sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của Q và thu giữ 01 (một) túi ni lon màu trắng, có kích thước (2,4 x 1,7) cm, được hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng (niêm phong gói 01, ký hiệu NS4, có mã số NS4A133197).
Sau khi bắt quả tang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cù Lao D tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở tại nhà của Nguyễn Hoàng Q đã thu giữ 02 túi ni lon gồm: 01 (một) túi ni lon màu trắng được hàn kín, bên trong túi ni lon có chứa tinh thể rắn màu trắng, có kích thước: dài 3,9 cm, chiều rộng nhất là 1,5 cm, hẹp nhất 0,5 cm (niêm phong gói 02 ký hiệu NS4, có mã số NS4A001910) và 01 (một) túi ni lon màu trắng, có kích thước (5 x 4,5) cm, được hàn kín bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng (niêm phong gói 03 ký hiệu NS4, có mã số NS4A133195).
Ngoài ra, trong quá trình bắt quả tang và khám xét khẩn cấp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cù Lao D còn thu giữ nhiều vật chứng và tiền Việt Nam có liên quan đến quá trình tàng trữ trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Hoàng Q.
Tại Bản kết luận giám định số 103 ngày 27 tháng 7 năm 2020 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận:
- Gói 01: tinh thể rắn màu trắng bên trong túi ni lon không màu đựng trong 01 túi niêm phong ký hiệu NS4, có mã số NS4A133197 là ma túy, có khối lượng 0,0851 gam, loại Methamphetamine.
- Gói 02: tinh thể rắn màu trắng bên trong túi ni lon không màu đựng trong 01 túi niêm phong ký hiệu NS4, có mã số NS4A001910 là ma túy, có khối lượng 0,1866 gam, loại Methamphetamine.
- Gói 03: tinh thể rắn màu trắng bên trong túi ni lon không màu đựng trong 01 túi niêm phong ký hiệu NS4, có mã số NS4A133195 là ma túy, có khối lượng 7,6514 gam, loại Methamphetamine.
Như vậy, 03 gói tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 7,9231 gam.
Trong quá trình điều tra Nguyễn Hoàng Q thừa nhận tất cả số ma túy này là của Q nhờ Cao Lập Đ (là cháu ruột của Q đang làm thuê tại Bình Dương) mua dùm cho Q với số tiền là 1.100.000 đồng, sau khi Đ mua được ma túy Đ gửi xe Mỹ D về bến xe tại thành phố Sóc Trăng cho Q, Q lên bến xe nhận về nhà, số ma túy này Q mua đem về sử dụng chứ không có bán ma túy cho ai. Vào khoảng 13 giờ ngày 23/7/2020 thì Võ Văn N1 và Trần Văn N2 chạy xe đến nhà Q để bán gà cho Q, Q mới kêu N1 và N2 vào nhà chờ, Q mượn xe của N2 chạy đi mua gà, Q chạy xe đi mua được một con gà mang về, khi mang gà về Q cho hai con gà đá thử với nhau (địa phương gọi là xổ gà). Sau đó Q, N1, N2 đi vào phòng ở nhà sau của Q, do biết N1 và N2 có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, nên Q lấy ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy đưa cho N1 và N2 rồi cùng nhau sử dụng ma túy, trong lúc đang sử dụng ma túy thì lực lượng Công an đến bắt quả tang. Q thừa nhận có tổ chức cho N1, N2 sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của Q nhiều lần.
Kết quả xét nghiệm và xác định tình trạng nghiện đối với Nguyễn Hoàng Q, Võ Văn N1 và Trần Văn N2: Nguyễn Hoàng Q dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine, không nghiện chất ma túy; Võ Văn N1 dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine, không nghiện chất ma túy; Trần Văn N2 dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine, nghiện ma túy loại Methamphetamine.
Trên cơ sở kết quả điều tra cùng những tài liệu chứng cứ thu được, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cù Lao D đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Hoàng Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam để chờ xét xử.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2021/HS-ST ngày 08-4-2021 của Tòa án nhân dân huyện Cù Lao D, tỉnh Sóc Trăng quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Q 05 (năm) năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Q 07 (bảy) năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Q phải chấp hành là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/7/2020.
- Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
* Đến ngày 16-4-2021, bị cáo Nguyễn Hoàng Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, với các lý do: Bị cáo học thức không cao, không am hiểu pháp luật, phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng, cha mẹ già, con còn nhỏ không có người trông coi.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Hoàng Q giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm án của bị cáo Nguyễn Hoàng Q, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của bị Nguyễn Hoàng Q lập ngày 16-4-2021 và được trại tạm giam công an tỉnh Sóc Trăng xác nhận cùng ngày là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định của các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng Q về việc xin giảm nhẹ hình phạt.
Xét về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hoàng Q như sau: Bị cáo Nguyễn Hoàng Q thừa nhận tất cả số ma túy công an thu giữ là của bị cáo nhờ Cao Lập Đức (là cháu ruột của Q đang làm thuê tại Bình Dương) mua dùm cho bị cáo với số tiền là 1.100.000 đồng, sau khi Đức mua được ma túy Đức gửi xe Mỹ Duyên về bến xe tại thành phố Sóc Trăng cho bị cáo, bị cáo lên bến xe nhận về nhà, số ma túy này, bị cáo mua đem về sử dụng chứ không có bán ma túy cho ai. Vào khoảng 13 giờ ngày 23/7/2020 thì Võ Văn N1 và Trần Văn N2 chạy xe đến nhà bị cáo để bán gà cho bị cáo, bị cáo mới kêu N1 và N2 vào nhà chờ, bị cáo mượn xe của N2 chạy đi mua gà, bị cáo chạy xe đi mua được một con gà mang về, khi mang gà về bị cáo cho hai con gà đá thử với nhau (địa phương gọi là xổ gà). Sau đó bị cáo, N1, N2 đi vào phòng ở nhà sau của bị cáo, do biết N1 và N2 có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, nên bị cáo lấy ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy đưa cho N1 và N2 rồi cùng nhau sử dụng ma túy, trong lúc đang sử dụng ma túy thì lực lượng Công an đến bắt quả tang. Bị cáo thừa nhận có tổ chức cho N1, N2 sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của Q nhiều lần.
Kết quả xét nghiệm và xác định tình trạng nghiện đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Q, Võ Văn N1 và Trần Văn N2 đều dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.
Tại Bản kết luận giám định số 103 ngày 27 tháng 7 năm 2020 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận:
- Gói 01: tinh thể rắn màu trắng bên trong túi ni lon không màu đựng trong 01 túi niêm phong ký hiệu NS4, có mã số NS4A133197 là ma túy, có khối lượng 0,0851 gam, loại Methamphetamine.
- Gói 02: tinh thể rắn màu trắng bên trong túi ni lon không màu đựng trong 01 túi niêm phong ký hiệu NS4, có mã số NS4A001910 là ma túy, có khối lượng 0,1866 gam, loại Methamphetamine.
- Gói 03: tinh thể rắn màu trắng bên trong túi ni lon không màu đựng trong 01 túi niêm phong ký hiệu NS4, có mã số NS4A133195 là ma túy, có khối lượng 7,6514 gam, loại Methamphetamine.
Như vậy, 03 gói tinh thể màu trắng là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 7,9231 gam.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249, điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Hoàng Q: Xét thấy, khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Q như sau: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, căn cứ vào điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cũng là đúng pháp luật và xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Các lý do bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt như bị cáo học thức không cao, không am hiểu pháp luật, phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải, cha mẹ già, con còn nhỏ không có người trông coi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ cấp sơ thẩm đã xem xét không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 05 (năm) năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Q 07 (bảy) năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Q phải chấp hành là 12 (mười hai) năm tù là phù hợp và tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo nêu ra được tình tiết giảm nhẹ gia đình có công, nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào để Hội đồng xét xử xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Hoàng Q.
Lời đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Hoàng Q phải chịu án phí phúc thẩm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Hoàng Q. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2021/HS-ST ngày 08-4-2021 của Tòa án nhân dân huyện Cù Lao D, tỉnh Sóc Trăng.
2. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 55 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Q 05 (năm) năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Q 07 (bảy) năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Q phải chấp hành là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/7/2020.
3. Về án phí hình phúc thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Q phải chịu là 200.000 đồng.
4. Các phần khác của quyết định bản án hình sự sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị, không nêu trong quyết định này, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Sóc Trăng (01 bản) - TAND huyện Cù Lao D (02 bản) - VKSND huyện Cù Lao D (01 bản) - CQĐT - Công an huyện Cù Lao D (01 bản) - CQTHAHS-Công an huyện Cù Lao D (01 bản) - Chi cục THADS huyện Cù Lao D (01 bản) - Bị cáo (01 bản) - Trại tạm giam - Công an tỉnh Sóc Trăng (01 bản) - CQTHAHS - Công an tỉnh Sóc Trăng (01 bản) - Sơ Tư pháp; (01 bản); - Lưu (04 bản) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Dũ |