vanban.org

Bản án 50/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị Bé H đối với anh Nguyễn Thanh T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Bé H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T. Về án phí: Chị H chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị Bé H đối với anh Nguyễn Thanh T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỊNH BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 50/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 07-12-2021
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình, ly hôn ”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG

THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Khánh.

Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Huy Cường.

- Ông Trần Thanh Hoàng.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Việt - Thư ký tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên toà: Bà Nèang Sa Men – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình thụ lý số: 403/2020/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2020 về việc “ Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn ” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số: 70/QĐST-HNGĐ ngày 22/11/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bé H, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Tổ 15, ấp B, xã K, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1978;

Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang

( Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt lần 2 không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn ngày 28 tháng 01 năm 2021 và lời khai tại Tòa án, chị Trần Thị Bé H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Thanh T quen biết, do tự tìm hiểu và được sự đồng ý của hai bên gia đình tổ chức lễ cưới năm 2014 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, thành phố Long Xuyên, An Giang. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng sống hạnh phúc và chỉ được trong khoảng thời gian ngắn, chị và anh T xảy ra nhiều mâu thuẫn và bất đồng trong quan điểm sống, thường xuyên cải vã, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt khoảng năm 2015 chị và anh T sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, chị và anh T không có gặp nhau nói chuyện Hn gắn vợ chồng. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

Về con chung: Chị và anh T không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh T: Anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án triệu tập anh T đến tham dự phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh T vắng mặt không lý do.

Tại phiên Toà Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử về việc chấp Hnh pháp luật của người tham gia tố tụng:

- Thẩm phán: Chấp Hnh đúng các qui định của pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên Thẩm phán để án trể hạn xét xử theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Hội đồng xét xử: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

- Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chấp Hnh chưa đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

+ Về hôn nhân: Đề nghị chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh T.

+ Về con chung: Chị H và anh T không có con chung nên không đặt ra xem xét.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác nhận không có nên không xét giải quyết.

+ Về án phí: Chị H khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí theo theo quy định của pháp luật.

- Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Thanh T là bị đơn, hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã L, huyện Tịnh Biên, An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân huyện Tịnh Biên thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về việc vắng mặt của các đương sự: Chị Trần Thị Bé H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án tống đạt hợp lệ cho anh Nguyễn Thanh T quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên Tòa lần thứ nhất và giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bị đơn anh T. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử tiến Hnh xét xử vắng mặt bị đơn theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Chị Trần Thị Bé H cho rằng khoảng tháng 12 năm 2014 chị và anh T được hai gia đình tổ chức lễ cưới, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, thánh phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. theo giấy chứng nhận kết hôn số: 90 ngày 03/12/2014. Tại thời điểm kết hôn chị H và anh T đã đủ độ tuổi và có đăng ký kết hôn tại cơ quan NH nước có thẩm quyền, do vậy đây là hôn nhân hợp pháp theo qui định tại Điều 8 và 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Theo chị H cho rằng cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, khoảng tháng 01 năm 2015 thì chị và anh T phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay. Trong quá trình giải quyết cũng như trong hòa giải, công bố chứng cứ tòa án cũng đã phân tích hậu quả của việc ly hôn, tuy nhiên chị H cương quyết giữ nguyên yêu cầu là xin ly hôn với anh T, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân thì cũng không đem lại hạnh phúc, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H được lý hôn với anh T là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị H xác nhận; chị và anh T không có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Chị H xác nhận là không có; nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Nợ chung: không có.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị H khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí theo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56 và 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 28, Điều 35, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị Bé H đối với anh Nguyễn Thanh T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Bé H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

2. Về án phí: Chị H chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: TU/2019/0006231 ngày 26/02/2021 của Chi cục Thi Hnh án dân sự huyện Tịnh Biên.

Giấy chứng nhận kết hôn số: 90 ngày 03/12/2014 của Ủy ban nhân dân xã K, thành phố Long Xuyên, An Giang không còn giá trị pháp lý.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ