- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H - K"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễ n Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn K.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2021/HNGĐ - ST Ngày: 24 - 9 - 2021 V/v: tranh chấp Hôn nhân và gia đình (H - K) |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Lợi
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Hiểu
2. Bà Phan Thị Hạnh Mỹ
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phƣơng Thảo - Thư ký TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Nhất - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 9 năm 2021 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 127/2021/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2021 về tranh chấp "Hôn nhân và gia đình". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2021/QĐXX-ST ngày 01 tháng 9 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 52/2021/QĐST - HNGĐ ngày 17 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễ n Thị H - sinh năm 1992
Địa chỉ: thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K - sinh năm 1982
Địa chỉ: thôn T, xã NT, huyện T, tỉnh Thái Bình.
(chị H vắng mặt có lý do; anh K vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễ n Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn K kế t hôn trên cơ sở tự nguyệ n tì m hiể u, cướ i có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình vào ngày 30/11/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, nguyên nhân là do anh K thường xuyên rượu chè và đánh chửi vợ con do đó năm 2018 chị đã bế con rời khỏ i gia đì nh. Sau đó anh K tìm mọi cách để đòi lại con mục đí ch không cho chị đ ược nuôi dưỡng con , anh K không có ý đị nh hà n gắ n tì nh cảm vợ chồ ng. Hiệ n chị và anh K đã số ng ly thân, không ai quan tâm đế n ai. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạ nh phú c vì vậ y chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễ n Văn K.
Về con chung: Chị và anh K có 02 con chung là Nguyễn Ngọc T - sinh ngày 20/9/2011 và Nguyễ n Hoà ng P - sinh ngà y 16/02/2017. Hiện các con đang sinh sống cùng anh K và gia đình anh K tại xã NT, huyệ n T, tỉnh Thá i Bì nh từ khi vợ chồng ly thân. Ly hôn chị có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng mộ t con chung, nế u anh K có đủ khả năng nuôi cả hai con t hì chị đồng ý để anh K nuôi cả hai con. Chị sẽ tự nguyện cấp dưỡng nuôi hai con chung cù ng anh K trong khả củ a chị bằ ng cá ch gử i về cho cá c con.
Về tài sản: Chị và anh K không có tà i sả n chung, nợ chung hay cho ai vay nợ vì vậ y không yêu cầ u Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản lấy lời khai anh Nguyễ n Văn K, anh trình bày: Anh có nhậ n đượ c cá c văn bả n Tò a á n gử i đế n nhưng anh theo đạ o
thiên chú a nên không đế n Tò a á n để là m việ c cũ ng như ký cá c văn bả n, giấ y tờ , thủ tục của Tòa án về ly hôn.
Về hôn nhân: Anh và chị N guyễ n Thị H tự nguyệ n tì m hiể u , kế t hôn có đăng ký tạ i UBND xã Nam Thị nh, huyệ n Tiề n Hả i ngà y 30/11/2010. Sau khi kế t hôn vợ chồ ng chung số ng cù ng nhau tạ i thôn T, xã NT, huyệ n T. Quá trình chung số ng cuộ c số ng vợ chồ ng b ình thường , hạnh phúc , chỉ có những mâu thuẫ n nhỏ nhặ t. Chị H đã tự ý bỏ nhà đi chứ anh không đá nh đậ p hay chử i bớ i gì chị H. Nay chị H có đơn ly hôn anh , quan điể m củ a anh là anh theo đạ o thiên chúa nên không đồng ý ly hôn, chị Hạnh tự xin ly hôn là quyền của chị.
Về con chung: Anh và chị H có hai con chung như chị H trình bày ở trên . Hiệ n cá c con đang sinh số ng cù ng anh và gia đì nh anh tạ i xã NT, huyệ n T. Anh có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc , nuôi dạ y cả hai con và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh.
Về tài sản: Quá trình chung sống anh và chị H không có tài sản chung, nợ chung.
* Biên bản xác minh tại UBND xã Nam Thịnh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình:
Chị Nguyễn Thị H - sinh năm 1992 và anh Nguyễn Văn K - sinh năm 1982 có đăng ký thường trú tại thôn T, xã NT, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Chị H, anh K tự nguyệ n tì m hiể u , có kết hôn với nhau tại xã ngày 30/11/2010; anh chị có 02 con chung là Nguyễn Ngọ c T - sinh ngày 20/9/2011 và Nguyễ n Hoà ng P - sinh ngà y 16/02/2017. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là gì địa phương không nắm bắt được, nay chị H đề nghị ly hôn anh K và việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, địa phương đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật về hôn nhân và con chung. Đối với tài sản của vợ chồng anh, chị địa phương không nắm được cụ thể như thế nào.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa đã thực hiện nghiêm các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, các văn bản tố tụng được tống đạt đầy đủ, hợp lệ cho người bị kiện. Nguyên đơn, bị đơn về cơ bản chấp hành pháp luật tố tụng để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Do mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễ n Văn K đã không thể hòa giải, hiệ n tạ i cá c anh chị không chung số ng cù ng nhau , không ai quan tâm đế n cuộ c số ng củ a ai. Điề u nà y chứ ng tỏ hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khở i kiệ n của chị Nguyễ n Thị H , xử cho chị Nguyễ n Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn K.
+ Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị H, anh K có 02 con chung là Nguyễn Ngọ c T - sinh ngày 20/9/2011 và Nguyễ n Hoà ng P - sinh ngà y 16/02/2017. Hiện cá c con đang do anh K và gia đình anh K trự c tiế p chăm só c , nuôi dưỡ ng, cuộc sống của các cháu hiện đảm bảo phát triển. Mặt khác anh K có nguyệ n vọ ng nuôi cả hai con và chị H cũng đồng ý vớ i việ c để anh K nuôi cả hai con. Vì vậy ly hôn đề nghị Tòa án giao 02 con Nguyễ n Ngọc T, Nguyễ n Hoà ng P cho anh Nguyễ n Văn K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyệ n củ a anh K không buộc chị H phải cấp dưỡng nuôi con cùng anh, việc cấp dưỡng nuôi con đặt ra giải quyết khi có yêu cầu.
+ Về quan hệ tài sản: Chị H, anh K không có tà i sả n chung nên không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, cũng như phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị H, anh K là tranh chấp về ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh K có nơi cư trú tại thôn T, xã NT, huyện T, tỉnh Thái Bình do đó chị H khởi kiện yêu cầ u Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giải quyết vụ án là đúng với quy định tại Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Văn K đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do, chị Nguyễ n Thị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễ n Thị H và anh Nguyễn Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã NT, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 30/11/2010 đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng nhau tại nhà anh K . Theo chị H cuộ c số ng vợ chồ ng không có hạnh phúc, theo anh K thì vợ chồng chung sống hạnh phúc , chỉ có vài mâu thuẫ n nhỏ nhặ t. Chứ ng tỏ cuộ c số ng vợ chồ ng anh chị không có hạ nh phú c do quan điể m về hạ nh phú c khá c nhau dẫ n đế n c hị H đã bỏ khỏ i nhà kh ông chung số ng cù ng anh K. Hiệ n tạ i anh, chị không ai quan tâm đế n cuộ c số ng củ a ai từ năm 2018 cho đế n nay . Như vậy có đủ cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa chị H, anh K không còn, hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễ n Thị H, xử cho chị Nguyễ n Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn K là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Nguyễ n Thị H và anh Nguyễn Văn K có 02 con chung là Nguyễn Ngọ c T - sinh ngày 20/9/2011 và Nguyễ n Hoà ng P - sinh ngà y 16/02/2017. Hiện cá c co n đang sinh sống cùng anh K và gia đình anh K tại xã NT, huyệ n T, tỉnh Thái Bình. Việ c chăm só c, nuôi dưỡ ng hai con hiệ n do anh K thực hiện từ năm 2018, cuộc sống của cháu được đảm bảo, có điều kiện phát triển. Mặt khác anh K có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc , nuôi dưỡ ng cả hai con, cháu T có nguyện vọ ng ở vớ i bố . Chị H trình bày nếu anh K nhậ n nuôi cả hai con thì chị cũ ng đồ ng ý . Vì vậy HĐXX chấp nhận: Giao 02 con chung Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Hoà ng P cho anh K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như chấp nhận sự tự nguyệ n củ a anh K không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Chị H có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi các bên đương sự có yêu cầu là phù hợp với quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản: Chị H, anh K không có tà i sả n chun g, không có nợ chung nên không đặ t ra giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễ n Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễ n Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn K.
2. Về quan hệ con chung: Chị Nguyễ n Thị H và anh Nguyễn Văn K có 02 con chung là Nguyễn Ngọ c T - sinh ngày 20/9/2011 và Nguyễ n Hoàng P - sinh ngày 16/02/2017. Ly hôn giao 02 con Nguyễn Ngọc T và Nguyễn Hoàng P cho anh K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi tròn 18 tuổi, chị Nguyễn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh K.
Chị H có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi các bên đương sự có yêu cầu.
3. Về quan hệ tài sản: Không có, không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễ n Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển 300.000đ chị Nguyễ n Thị H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0002200 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình ngày 09/8/2021 sang thi hành án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễ n Thị H, anh Nguyễn Văn K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| *Nơi nhận: - Đương sự; - VKS huyện Tiền Hải; - THADS huyện Tiền Hải; - UBND xã NT, Tiền Hải; - TAND, VKSND tỉnh Thái Bình; - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP. Thành viên Hội đồng xét xử Trần Văn Hiểu Phan Thị Hạnh Mỹ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa ( đã ký) Vũ Văn Lợi Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Văn Lợi |