vanban.org

Bản án 50/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà N.T.L về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn” đối với bị đơn là ông V.N.V. Bà N.T.L được ly hôn với ông V.N.V.

Về con chung: Bà L và ông V có 01 con chung là Võ Hà Đông, sinh năm 1979, đã thành niên, có khả năng tự lao động, sinh sống được nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà N.T.L về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn” đối với bị đơn là ông V.N.V. Bà N.T.L được ly hôn với ông V.N.V.
  • Căn cứ chính? Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 07/12/2021
V/v:“Tranh chấp hôn nhân và
gia đình về ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM NINH

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Thạch.

2. Ông Võ Quang Truyền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Việt– Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 220/2021/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2021 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2021/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà N.T.L, sinh năm 1959; địa chỉ: Số nhà K5/11, khu phố Hiệp Long, phường Hiệp Tân, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông V.N.V, sinh năm 1957; địa chỉ: Khu phố Hiệp Định, phường Hiệp Tân, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/4/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà N.T.L trình bày:

Bà N.T.L và ông V.N.V là vợ chồng, chung sống với nhau vào năm 1978, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại xã Hiệp Ninh, huyện Phú Khương (nay là phường Hiệp Ninh, thành phố Tây Ninh), tỉnh Tây Ninh. Ông bà sống chung hạnh phúc đến năm 1979 thì phát sinh mâu thuẫn, do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên cãi nhau thường xuyên, ông V bỏ nhà đi từ đó cho đến nay. Bà L đã tìm kiếm ông V nhiều lần nhưng không được và có làm đơn yêu cầu tuyên bố mất tích tại Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Tòa án chấp nhận yêu cầu tuyên bố ông V.N.V mất tích. Hiện tình cảm vợ chồng không còn nên bà L yêu cầu ly hôn với ông V.

Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Võ Hà Đông, sinh năm 1979, đã thành niên, có khả năng tự lao động, sinh sống được. Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vào ngày 03-11-2021, bà L có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông V nhưng ông không đến Tòa án, không gửi ý kiến bằng văn bản phản đối yêu cầu ly hôn của bà L.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đến khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Đối với quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là bà N.T.L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là ông V.N.V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng ông V vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Bà N.T.L, ông V.N.V tự nguyện chung sống vợ chồng và có đăng ký kết hôn năm 1978 tại xã Hiệp Ninh, huyện Phú Khương (nay là phường Hiệp Ninh, thành phố Tây Ninh), tỉnh Tây Ninh. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống, ông bà hạnh phúc đến năm 1979 thì phát sinh mâu thuẫn do không tin tưởng nhau về tình cảm, ông V bỏ nhà đi từ đó cho đến nay. Bà L đã tìm kiếm ông V nhiều lần nhưng không được, có làm đơn yêu cầu tuyên bố mất tích tại Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh. Tòa án chấp nhận yêu cầu tuyên bố ông V.N.V mất tích. Nay bà L yêu cầu ly hôn với ông V. Nhận thấy, hôn nhân giữa bà L và ông V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Võ Hà Đông, sinh năm 1979, đã thành niên, có khả năng tự lao động, sinh sống được nên không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà N.T.L là người cao tuổi nên không phải chịu án phí theo quy định tại Điều 11, Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 5 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, các điều 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, và 81 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 11, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà N.T.L về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn” đối với bị đơn là ông V.N.V. Bà N.T.L được ly hôn với ông V.N.V.

2. Về con chung: Bà L và ông V có 01 con chung là Võ Hà Đông, sinh năm 1979, đã thành niên, có khả năng tự lao động, sinh sống được nên không đặt ra giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà N.T.L là người cao tuổi nên không phải chịu án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ