vanban.org

Bản án 50/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L đối với anh Trần Minh H.

Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Minh H được ly hôn Về con chung: Anh H, chị L có 02 con chung là Trần Minh T , sinh năm 1994 và Trần M , sinh năm 1996, con chung đã trưởng thành không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Loan - Huong"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L đối với anh Trần Minh H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 16-11-2021
V/v “ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vân;

Ông Đào Chiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Võ Minh Mẫn – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 218/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2021 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1974 (có mặt).

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Anh Trần Minh H, sinh năm 1974 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02-4-2021 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn – chị Nguyễn Thị L trình bày:

Chị và anh Trần Minh H chung sống với nhau năm 1993, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh ngày 02-8-2002. Trong quá trình sống chung vợ chồng thường bất đồng ý kiến, cãi nhau. Đến năm 2011 anh H đi làm ăn xa thỉnh thoảng có về thăm nhà, thời gian sau anh H chỉ thỉnh thoảng gọi điện về hỏi thăm gia đình. Chị và anh H ly thân nhau khoảng 10 năm. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Minh H.

Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung tên Trần Minh T, sinh năm 1994 và Trần M , sinh năm 1996, con chung đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn – anh Trần Minh H: Quá trình giải quyết vụ án anh H đã được Tòa án thực hiện niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H vắng mặt, không có văn bản trình bày kiến.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L đối với anh Trần Minh H. Về con chung đã trưởng thành không giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết. Về án phí: Chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Trần Minh H là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Minh H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1993 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh vào ngày 02/8/2002 nên hôn nhân giữa chị L và anh H là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lthì thấy rằng: Quá trình chung sống chị L cho rằng chị và anh H thường xuyên cãi vã nguyên nhân do bất đồng ý kiến. Theo chị L trình bày thì đến năm 2011 anh H thường xuyên đi làm ăn xa thỉnh thoảng về thăm nhà, thời gian sau này anh H không về thăm nhà. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2011 cho đến nay. Lời trình bày của chị L phù hợp với biên bản xác minh ngày 10-6-2021. Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...”. Hội đồng xét xử nhận thấy, chị L và anh H sống ly thân nhau thời gian đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh H.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Minh H có hai con chung tên Trần Minh T , sinh năm 1994 và Trần M , sinh năm 1996, con chung đã trưởng thành chị L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa, phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L đối với anh Trần Minh H.

Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Minh H được ly hôn

2. Về con chung: Anh H, chị L có 02 con chung là Trần Minh T , sinh năm 1994 và Trần M , sinh năm 1996, con chung đã trưởng thành không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0007272 ngày 06-4-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C. Chị L đã nộp xong.

Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ