vanban.org

Bản án 50/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 20/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 18 (Mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính ngày 09/02/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo. Về vật chứngcủa vụ án: Căn cứ điểm ckhoản 1Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2020/HS-ST
Ngày 20-4-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Long Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Yên.

Ông Đỗ Đình Bản.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu tham gia phiên toà: Ông Sa Văn Quỳnh- Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2020, tại Nhà tạm giữ Công an huyê ̣n Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khaivụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2020/TLST-HS ngày 13/3/2020; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2020/QĐXXST- HS ngày 15/4/2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1979 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nơi cư trú: Tiểu khu A, thị trấn M, huyện C, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không;quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Nguyễn Hữu L và bà Lê Thị M (Đều đã chết); bị cáo vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1978 và 02con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/02/2020 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 40 ngày 09/02/2020 tổ công tác Công an huyện Mộc Châu làm nhiệm vụ tại tiểu khu A, thị trấn M, huyện C phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Hữu Đ,sinh năm 1979, nơi cư trú: Tiểu khu A, thị trấn M, huyện C, tỉnh Sơn La đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là Heroin.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng chất bột màu trắng nghi là Heroin thu giữ của Nguyễn Hữu Đ có khối lượng 0,14 gam. Lấy toàn bộ 0,14 gam kí hiệu Đ gửi giám định chất ma túy tại phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La.

Tại kết luận giám định số 325 ngày 13 tháng 02 năm 2020 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định kí hiệu Đ là ma túy; loại Heroine; khối lượng mẫu gửi giám định là 0,14 gam; tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,14 gam; loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định: Chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu Đ, không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,10 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hữu Đ khai nhận:

Khoảng 08 giờ ngày 09/02/2020, Nguyễn Hữu Đ đi bộ từ nhà ra đường dân sinh thuộc tiểu khu A, thị trấn M, huyện C để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đang đi trên đường dân sinh thì Đ gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 60 tuổi. Qua trao đổi, Đ đã hỏi và mua được của người đàn ông đó 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong đựng Heroine với giá 100.000đ, Đô cầm gói ma túy ở bàn tay trái rồi đi về nhà. Khi đang đi trên đường thì bị tổ công tác phát hiện và bắt quả tang.

Tại phiên tòa bị cáoNguyễn Hữu Đ trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại bản Cáo trạng số 39/CT- VKS ngày 12 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối vớibị cáo như sau:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Hữu Đ từ 18 tháng đến 21tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án đề nghị áp dụngđiểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy:01(một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Nguyễn Hữu Đ, bắt ngày 09/02/2020: Bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu + gói giấy màu trắng có dòng kẻ; 01(một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử của Nguyễn Hữu Đ; 01(một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Nguyễn Hữu Đ – tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 9/2/2020 tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Sơn La. Gồm có phong bì niêm phong cũ và chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu “ Đ” không sử dụng đến trong quá trình giám định, có khối lượng 0,10 gam.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Sau khi Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát và có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Về tội danh:Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hữu Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình , như đã khai tại cơ quan Điều tra , số ma túy bị tổ công tác Công an huyện Mộc Châu thu giữ có nguồn gốc của bị cáo mua được của một người đàn ông không quen biết với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) vào ngày 09/02/2020, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra,bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Hữu Đ do tổ công tác Công an xã Đông Sang, huyện Mộc Châu lập vào hồi 08 giờ 40 phút, ngày 09/02/2020, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định,bản kết luận giám định số: 325 ngày 13/02/2020 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Sơn La kết luận:Mẫu gửi giám định kí hiệu Đ là ma túy; loại Heroine; khối lượng mẫu gửi giám định là 0,14 gam; tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,14 gam; loại Heroine nằm trong danh mục I, Stt: 9 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX xét thấy: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy.Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 09/02/2020bị cáo Nguyễn Hữu Đ đã có hành vi tàng trữ 0,14 gam Heroinenhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt:

- Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu Đ không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xét chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáođược hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khái báo, ăn năn hối cải.

Bị cáo có bố đẻ là Nguyễn Hữu L được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét áp dụng đối với bị cáo.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

3 Về hình phạt bổ sung :Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ (Năm triệu đồng) đến 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

4 Về vật chứng, xử lý vật chứng:

- Đối với01(một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Nguyễn Hữu Đ, bắt ngày 09/02/2020: Bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu + gói giấy màu trắng có dòng kẻ; 01(một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử của Nguyễn Hữu Đ; 01(một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Nguyễn Hữu Đ – Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 9/2/2020 tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Sơn La. Gồm có phong bì niêm phong cũ và chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu “ Đ” không sử dụng đến trong quá trình giám định, có khối lượng 0,10 gam.Xét thấy đây là những vật cấm mua bán, lưu hành, không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

5 Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Hữu Đ, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

6 Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) là phù hợp với khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Hữu Đ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 18 (Mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính ngày 09/02/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2.Về vật chứngcủa vụ án: Căn cứ điểm ckhoản 1Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy:01(một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Nguyễn Hữu Đ, bắt ngày 09/02/2020: Bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu + gói giấy màu trắng có dòng kẻ; 01(một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử của Nguyễn Hữu Đ; 01(một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Nguyễn Hữu Đ – Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 9/2/2020 tại thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Gồm có phong bì niêm phong cũ và chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hiệu “ Đ” không sử dụng đến trong quá trình giám định, có khối lượng 0,10 gam.

3. Về án phí:Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Hữu Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ