- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Ngọc Tr - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ngọc Tr 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù t nh từ ngày 17/12/2019.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự trả lại; Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2020/HS-ST Ngày 13 - 5 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Năm
Bà Nguyễn Thanh Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2020 tại tr s Tòa án nhân dân Quận 8 Thành phố H Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 34/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 59/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Ngọc Tr; sinh ngày 20 tháng 3 năm 1969 tại Long An; nơi cư trú: 258/7/1/27/3 B Phường 5 Quận 8 Thành phố H Ch Minh; nghề nghiệp: Chạy xe ôm; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc Ch (chết) và bà Phạm Thị Ánh T (chết); có vợ và 01 con sinh năm 2003; tiền án tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 01/12/2017, Công an xã Bình Hưng huyện Bình Chánh, Thành phố H Ch Minh xử phạt vi phạm hành ch nh về hành vi “T tập nhiều người nơi công cộng gây mất trật tự công cộng” bằng hình thức phạt tiền 750.000 đ ng nộp phạt ngày 11/01/2018.
Bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 17/12/2019 đến nay (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Lê Ngọc Th sinh năm 1981; nơi cư trú: Ấp C, xã M huyện C tỉnh Long An. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 19 giờ ngày 17/12/2019 Tổ tuần tra Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Quận 8 tuần tra đến trước số 82 N Phường 13 Quận 8 Thành phố H Ch Minh thì phát hiện Nguyễn Văn Ngọc Tr đang điều khiển xe gắn máy biển số 62L1-435.60 do nghi vấn Tr liên quan đến ma túy nên Công an yêu cầu dừng xe và mời về tr s Công an Phường 13 Quận 8 để kiểm tra. Qua kiểm tra Công an phát hiện thu giữ trong túi áo khoác bên trái của Tr có 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng (Tr khai là ma tuý của Tr dùng để sử d ng). Ngoài ra Công an còn tạm giữ của Tr 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen và 01 xe gắn máy biển số 62L1-435.60 đ ng thời tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tr.
Tại Kết luận giám định số 25/KLGĐ-H ngày 23/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố H Ch Minh kết luận: Bột màu trắng trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Ngọc Tr và hình dấu Công an Phường 13 Quận 8, là ma túy thể rắn có khối lượng 0 3958g (không phẩy ba ch n năm tám gam) loại Heroine.
Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn Ngọc Tr khai nhận: Bản thân bị cáo nghiện ma túy nên thường mua ma túy về sử d ng. Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 17/12/2019, Tr điều khiển xe gắn máy biển số 62L1-435.60 đến khu vực quán “B” đường H Phường 14 Quận 8, sau đó chạy xe vào một đường hẻm (không nhớ số) gặp và mua của một người thanh niên (không rõ lai lịch) 01 gói Heroine giá 400.000 đ ng. Sau khi mua được ma túy, Tr cất gói ma túy vào túi áo khoác bên trái r i điều khiển xe đi về tìm nơi sử d ng. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày khi đi đến trước số 82 N Phường 13 Quận 8 thì Tr bị Công an phát hiện kiểm tra và bắt quả tang như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 02/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 Thành phố H Ch Minh truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ngọc Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 Thành phố H Ch Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Ngọc Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi phân t ch đánh giá t nh chất mức độ của hành vi phạm tội Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; không áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng thu giữ đề nghị áp d ng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) Điều 106 của Bộ luật tố t ng hình sự tuyên xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội ăn năn hối cãi và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong h sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8 Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong h sơ v án xác định vào lúc 19 giờ ngày 17/12/2019 tại trước số 82 N Phường 13 Quận 8 Thành phố H Ch Minh bị cáo Nguyễn Văn Ngọc Tr có hành vi cất giữ trái phép ma túy thể rắn, có khối lượng 0 3958 gam loại Heroine m c đ ch sử d ng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và an toàn xã hội. Như vậy Hội đ ng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Ngọc Tr đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xét t nh nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo giáo d c bị cáo tr thành người có ch có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống ngăn ngừa phạm tội mới; đ ng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có cơ s đúng người đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp d ng đối với bị cáo là phù hợp tương xứng với t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên Hội đ ng xét xử áp d ng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Năm 2017 bị cáo bị Công an xã Bình Hưng huyện Bình Chánh Thành phố H Chí Minh xử phạt vi phạm hành ch nh về hành vi “T tập nhiều người nơi công cộng gây mất trật tự công cộng” do đó khi lượng hình Hội đ ng xét xử cũng xem xét để có mức hình phạt phù hợp với nhân thân của bị cáo.
Xét thấy theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định điều kiện kinh tế còn khó khăn hành vi không nhằm m c đ ch thu lợi nên Hội đ ng xét xử không áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng v án quá trình điều tra thu giữ số ma túy trong gói niêm phong số 25/20-Q8 xét đây là vật cấm tàng trữ lưu hành nên Hội đ ng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen gắn sim số: 0903095064 tạm giữ của bị cáo, xét bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự trả lại cho bị cáo.
- 01 xe gắn máy biển số 62L1-435.60 có số khung: RLHHC1254FY294506 số máy: HC12E7294562. Qua xác minh xe này do anh Lê Ngọc Th đứng tên chủ s hữu. Bị cáo Tr khai xe này bị cáo mua vào năm 2017 nhưng không đủ giấy tờ tùy thân để làm thủ t c đứng tên chủ s hữu nên đã nhờ em vợ của Tr là Lê Ngọc Th đứng tên giùm. Sau đó Tr dùng xe gắn máy trên để làm phương tiện đi lại và mua ma túy để sử d ng. Anh Lê Ngọc Th cũng thừa nhận xe do bị cáo Tr mua và sử d ng anh chỉ đứng tên giùm. Việc bị cáo dùng xe đi mua ma tuý anh Th không biết. Như vậy, mặc dù xe không đứng tên của bị cáo nhưng qua lời khai của bị cáo và anh Th có đủ căn cứ xác định xe gắn máy biển số 62L1-435.60 thuộc s hữu của bị cáo Tr. Ngày 17/12/2019 bị cáo dùng xe này làm phương tiện đi mua ma tuý nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Trường hợp anh Th có tranh chấp với bị cáo liên quan đến chiếc xe trên thì được quyền kh i kiện để giải quyết bằng v án dân sự khác.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo do không xác định được lai lịch quá trình điều tra không đưa vào tham gia tố t ng nên Hội đ ng xét xử không xem xét trong v án này.
Về án ph hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội, bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ngọc Tr 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù t nh từ ngày 17/12/2019.
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi số 25/20-Q8, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Ngọc Tr Bùi Văn V – Cán bộ điều tra hình dấu Công an Phường 13 Quận 8 và chữ ký giám định viên Nguyễn Thanh Đ;
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe gắn máy biển số 62L1-435.60, có số khung: RLHHC1254FY294506 số máy: HC12E7294562;
Trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen gắn sim số: 0903095064 số IMEI: 355598/05/253657/4 (không kiểm tra tình trạng bên trong máy).
(Tất cả theo Phiếu nhập kho vật chứng số 35/PNK ngày 18/02/2020).
- Căn cứ vào các điều 135 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ngọc Tr nộp 200.000 đ ng án ph hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày t nh từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS ND Quận 8; - VKS ND TP. HCM; - CQ ĐT CA Quận 8; - CQ THA HS CA Quận 8; - Nhà tạm giữ CA Quận 8; - Chi c c THA DS Quận 8; - Người tham gia tố t ng khác; - TA ND TP.HCM; - S Tư pháp TP.HCM; - PC53; - Lưu: HS VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thanh |