- Tranh chấp gì? án hình sự — "NDT - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? ăn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ lu t Hình sự năm 2015 xử phạt: NDT 30 (ba mươi) tháng tù về tội Lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2020/HS-ST Ngày 26-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Điển
Ông Bùi Văn Khương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị m Vân - Thư ký Toà án c a Toà án nhân dân qu n H ng Bàng thành phố Hải hòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân qu n Hồng Bàng, thành ph H i Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2020, tại tr s Toà án nhân dân qu n H ng Bàng thành phố Hải hòng xét xử sơ th m công khai v án hình sự sơ th m th lý số: 40/2020/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 49/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2020 Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2020/HSST-QĐ ngày 14 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
NDT sinh năm 1972 tại Hải hòng. Nơi cư trú: Số 15/15 A phường B qu n C thành phố Hải hòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông D (đã chết) và bà E, gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai chưa có vợ con; tiền án: Không tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 07-3-2020 được áp d ng biện pháp ngăn chặn ấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16-3-2020; có mặt.
- Bị hại: Bà BH; trú tại: Số 42 hợ F phường G qu n H thành phố Hải hòng; vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Bà NLC1; vắng mặt;
2. Bà NLC2; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:
Năm 1997 NDT làm nhân viên bán hàng tại cửa hàng nông sản thực ph m tại địa chỉ: Số 93 B, qu n C thành phố Hải hòng do bà BH và bà NLC1 cùng góp vốn kinh doanh. Quá trình làm việc tại cửa hàng bà BH tin tư ng nên nhiều lần giao tiền cho NDT đem đi gửi vào tài khoản c a bà BH m tại Ngân hàng I. Tất cả các lần trên NDT đều gửi tiền đầy đ . Đến khoảng 08 giờ ngày 29-6-2000, bà BH giao cho NDT số tiền 83.260.000 đ ng đi gửi Ngân hàng như các lần trước đó. NDT cầm toàn bộ số tiền trên đạp xe đến Ngân hàng làm th t c gửi. Tại đây NDT gặp một người đàn ông (chưa xác định được nhân thân lai lịch), NDT kể cho người này nghe việc NDT đang nợ tiền cá độ bóng đá. Sau khi nghe chuyện người này đã r NDT lấy số tiền 83.260.000 đ ng và cùng nhau bỏ trốn vào Thành phố H Chí Minh. NDT đ ng ý về nhà cất xe đạp. Sau đó, NDT cùng người này đi Hà Nội mua vé tàu bỏ trốn vào Thành phố H hí Minh. Do lo sợ sẽ bị người đàn ông này trình báo Công an, nên NDT đã đưa cho người này 40.000.000 đ ng. Sau đó người này bỏ đi đâu làm gì NDT không nắm được. Quá trình bỏ trốn, NDT không liên lạc lại với bà BH và gia đình.
Không thấy NDT quay lại cửa hàng, bà BH đã đến Ngân hàng tìm thì được nhân viên Ngân hàng thông báo NDT không đem tiền đến nộp. Bà BH đến nhà tìm NDT thì được bà E (mẹ NDT) cho biết NDT không có nhà đi đâu làm gì gia đình không biết. Sau đó bà BH đã đến ông an phường han Bội hâu qu n H ng Bàng thành phố Hải hòng trình báo.
Ngày 11-7-2000, ơ quan ảnh sát điều tra ông an qu n H ng Bàng ra quyết định truy nã đối với NDT về tội Lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Đến 09 giờ ngày 07-3-2020, NDT đến ông an phường han Bội hâu qu n H ng Bàng thành phố Hải hòng đầu thú và khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.
Trong giai đoạn điều tra gia đình NDT đã b i thường cho bà BH toàn bộ số tiền 83.260.000 đ ng. Bà BH không còn yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại cáo trạng số: 31/CT-VKSHB ngày 01-6-2020 c a Viện kiểm sát nhân dân qu n H ng Bàng truy tố bị cáo NDT phạm tội Lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ lu t Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị cáo nh n tội như nội dung cáo trạng c a Viện kiểm sát đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân qu n H ng Bàng giữ nguyên cáo trạng đề nghị Hội đ ng xét xử kết tội bị cáo NDT phạm tội Lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ lu t Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, thành kh n khai báo, đã b i thường thiệt hại cho bị hại bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và ngày 07-3-2020 bị cáo đã đến ông an phường han Bội hâu để đầu thú. Vì v y đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét: Áp d ng quy định tại điểm b s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ lu t Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo NDT mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội Lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Không áp d ng hình phạt b sung đối với bị cáo. Bị cáo phải nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ th m.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong h sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đ ng xét xử nh n định như sau:
Về tài liệu chứng cứ ơ quan cảnh sát điều tra, ông an qu n H ng Bàng, Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân qu n H ng Bàng, Kiểm sát viên thu th p; bị cáo, người tham gia tố t ng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định c a Bộ lu t Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố t ng khác không có khiếu nại về những chứng cứ tài liệu đã thu th p cung cấp. Do đó những chứng cứ tài liệu trong v án đều hợp pháp.
2 Về hành vi quyết định tố t ng c a ơ quan cảnh sát điều tra ông an qu n H ng Bàng Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân qu n H ng Bàng Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng quy định c a Bộ lu t Tố t ng hình sự. Tại giai đoạn điều tra truy tố và tại phiên toà, bị cáo và người tham gia tố t ng khác không khiếu nại về hành vi quyết định các cơ quan tiến hành tố t ng người tiền hành tố t ng như nêu trên. Do đó các hành vi quyết định tố t ng c a các cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh:
3 Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa bị cáo nh n tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai c a bị cáo tại phiên tòa phù hợp Biên bản tiếp nh n người phạm tội ra đầu thú ngày 07-3-2020 tại ông an phường han Bội hâu qu n H ng Bàng thành phố Hải hòng biên bản ghi lời khai c a bị cáo tại ơ quan điều tra. Việc nh n tội c a bị cáo còn được chứng minh bằng các biên bản ghi lời khai c a bị hại và người làm chứng tài sản bị cáo chiếm đoạt là số tiền 83.260.000 đ ng. Số tiền này đã được gia đình bị cáo và bị cáo trả lại bị hại. Qua đó có đ cơ s xác định khoảng 08 giờ ngày 29-6-2000, sau khi được bị hại tin tư ng giao cho số tiền 83.260.000 đ ng để gửi vào Ngân hàng bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền trên để sử d ng vào m c đích cá nhân. Bị cáo đã cầm số tiền này và bỏ trốn. Như v y hành vi c a bị cáo đã phạm tội Lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Về việc áp d ng pháp lu t: Do hành vi phạm tội c a bị cáo xảy ra trước ngày Bộ lu t Hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp lu t nên bị cáo đã phạm tội Lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 Bộ lu t Hình sự năm 1999. Nhưng mức hình phạt quy định tại Điều 175 Bộ lu t Hình sự năm 2015 nhẹ hơn so với mức hình phạt quy định tại Điều 140 Bộ lu t Hình sự năm 1999. Vì v y căn cứ Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 c a Quốc hội và khoản 3 Điều 7 Bộ lu t Hình sự năm 2015 thì việc áp d ng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ lu t Hình sự 2015 để quyết định hình phạt đối với bị cáo sẽ có lợi cho bị cáo hơn. Vì v y Viện kiểm sát nhân dân qu n H ng Bàng truy tố bị cáo về tội Lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ lu t Hình sự 2015 là có cơ s nên cần chấp nh n.
Hành vi c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm hại đến quyền s hữu về tài sản c a người khác và gây mất tr t tự trị an chung. Vì v y việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là cần thiết.
Về nhân thân c a bị cáo: Bị cáo không có tiền án tiền sự. Nhưng sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn. ơ quan ảnh sát điều tra ông an qu n H ng Bàng đã ra quyết định truy nã đối với NDT từ ngày 11-7-2000, nên NDT không được hư ng án treo theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐT ngày 15-5-2018 c a Hội đ ng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao. Vì v y cần thiết buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian để cải tạo giáo d c răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[7 Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ c a bị cáo: Bị cáo đã thành kh n khai báo và đã b i thường thiệt hại cho bị hại nên bị cáo được hư ng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015. Ngoài ra, bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và ngày 07-3-2020 bị cáo đã đến ông an phường han Bội hâu để đầu thú, nên bị cáo được hư ng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015.
Về áp d ng hình phạt:
Về hình phạt b sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng không có việc làm n định nên không áp d ng hình phạt b sung.
Về trách nhiệm b i thường dân sự: Bị hại đã nh n lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu b i thường nên Hội đ ng xét xử không xem xét việc b i thường đối với bị hại.
Đối với người đàn ông r NDT bỏ trốn để chiếm đoạt số tiền c a bà BH quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch địa chỉ nên ơ quan ảnh sát điều tra ông an qu n H ng Bàng tiếp t c điều tra, xác minh, làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ th m.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
ăn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ lu t Hình sự năm 2015 xử phạt: NDT 30 (ba mươi) tháng tù về tội Lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được trừ 09 (chín) ngày tù vì đã bị tạm giữ từ ngày 07-3-2020 đến ngày 16-3-2020. Tiếp t c áp d ng biện pháp ngăn chặn ấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú được tính kể từ ngày tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
ăn cứ vào Điều 135 Điều 136 c a Bộ lu t Tố t ng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 c a Uỷ ban thường v Quốc Hội qui định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Toà án;
Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đ ng án phí hình sự sơ th m.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nh n được bản án hoặc niêm yết bản án./. Nơi nh n:
| - TAND TP Hải hòng; - VKSND T Hải hòng; - Công an TP Hải hòng; - S Tư pháp TP Hải hòng; - VKSND qu n H ng Bàng; - ông an qu n H ng Bàng; - THA hình sự; - hi c c THA Dân sự; - Bị cáo bị hại; - Lưu: VT h sơ v án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Huyền |