- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2020/HS-ST Ngày: 09-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đồng Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Hà.
2. Ông Nguyễn Trọng Di.
- Thư ký phiên tòa: Ông Văn Hồng Lễ, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Hứa Hải Dương, Kiểm sát viên.
Ngày 09/7/2020, tại Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2020/TLST-HS ngày 17/6/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2020/QĐXXST-HS ngày 26/6/2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh năm 2000, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố P, thị trấn P1, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị Đ; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt ngày 09/3/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tuy Phong. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Võ Thị Thu T, sinh năm 1976. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố Lương Đông, thị trấn Lương Sơn, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1991. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P1, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Trọng T, sinh năm 2001. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P1, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 09/3/2020, Công an huyện Tuy Phong phối hợp với Công an thị trấn P1 tuần tra tại khu vực Khu phố P, thị trấn P1, huyện Tuy Phong phát hiện Nguyễn Trọng T chở Nguyễn Văn C đi xe mô tô biển số 86AC.000.54 có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thu giữ trong túi quần bên phải phía trước của Nguyễn Văn C 01 tờ giấy bạc gói bên trong 01 nylon không màu có nẹp khóa màu đỏ kích thước (06cm x 9,5cm), bên trong túi nylon không màu có chứa 02 gói nylon (01 gói kích thước (02cm x 3,5cm) được hàn kín; 01 gói kích thước (1,5cm x 02cm) có nẹp khóa kéo màu xanh lá. Bên trong 02 gói nylon có chứa tinh thể màu trắng và C khai nhận tinh thể màu trắng là ma túy đá. Thu giữ của C 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, thu giữ của Nguyễn Trọng T 01 xe mô tô biển số 86AC.000.54 và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Văn C khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 18 giờ 30 phút ngày 07/3/2020, C một mình đi đến khu vực bờ biển thuộc khu phố Phú Hải, thị trấn P1, huyện Tuy Phong gặp 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) mua 300.000 đồng ma túy đá. Sau khi nhận tiền người đàn ông đưa cho C 01 gói nylon có nẹp khóa màu đỏ (kích thước 06 cm x 9,5cm), bên trong gói nylon có 02 gói ma túy đá (01 gói kích thước 02cm x 3,5cm, 01 gói kích thước 02cm x 1,5cm). C cất giấu ma túy trong người mang về nhà chưa sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 20 phút ngày 09/3/2020, trong lúc C đang đứng trên đường thì Nguyễn Trọng T chạy xe mô tô biển số 86AC.000.54 đến rủ C đi để phụ giữ con gà đang gửi ở nhà người quen, trên đường về đến Khu phố P, thị trấn P1 thì bị tổ tuần tra bắt quả tang, thu giữ tang vật chứng như đã nêu trên.
Tại bản kết luận giám định số 228/KLGĐ-PC09 ngày 16/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,5054 gam; là Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 49/CT-VKS-TP ngày 16/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: giữ nguyên quan điểm truy tố tại cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 12 – 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói kích thước (02cm x 3,5)cm đã cắt một đầu, 01 gói kích thước (1,5 x 02)cm có nẹp khóa kéo màu xanh lá đã cắt một đầu và 0,4062 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 228 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; 01 gói nylon không màu có nẹp khóa màu đỏ kích thước (06 x 9,5)cm và 01 tờ giấy bạc được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 02 có chữ ký của Nguyễn Văn C, Nguyễn Trọng T, Trương Anh T2, Trần Trọng M, Trần Quốc B, điều tra viên Trần Đức T3 và dấu tròn đỏ của Công an thị trấn P1 do không có giá trị sử dụng.
- Trả cho bị cáo Cường 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 03 có chữ ký của Nguyễn Văn C, Nguyễn Trọng T, Trương Anh T2, Trần Trọng M, Trần Quốc B, điều tra viên Trần Đức T3 và dấu tròn đỏ của Công an thị trấn P1 do không liên quan đến vụ án.
- Ý kiến của bị cáo Nguyễn Văn C: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu là đúng, không oan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Thị Thu T, Nguyễn Thị Ngọc T1 vắng mặt, tuy nhiên bà Võ Thị Thu T và Nguyễn Thị Ngọc T1 đã cung cấp đầy đủ lời khai tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phong. Xét thấy sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng dân sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Bản kết luận giám định số 228/KLGĐ-PC09 ngày 16/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 09/3/2020, Công an huyện Tuy Phong và Công an thị trấn P1 đã bắt quả tang bị cáo Nguyễn Văn C đang cất giữ trong túi quần bên phải phía trước của bị cáo Cường 0,5054 gam Methamphetamine. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với Nguyễn Trọng T do không biết bị cáo Cường đang tàng trữ trái phép chất ma túy nên Viện kiểm sát không truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì nghiện ma túy, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng, đây là hành vi trái pháp luật làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, tiếp tay cho những phần tử xấu duy trì tệ nạn ma túy đi ngược lại lợi ích chung của toàn xã hội nên cần xử phạt nghiêm để có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phong đã trả 01 xe mô tô biển số 86AC.000.54 cho chủ sở hữu Nguyễn Thị Ngọc T1 và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu hồng cho Nguyễn Trọng T do các vật chứng này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Cường là phù hợp pháp luật.
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói kích thước (02cm x 3,5)cm đã cắt một đầu, 01 gói kích thước (1,5 x 02)cm có nẹp khóa kéo màu xanh lá đã cắt một đầu và 0,4062 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 228 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; 01 gói nylon không màu có nẹp khóa màu đỏ kích thước (06 x 9,5)cm và 01 tờ giấy bạc được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 02 có chữ ký của Nguyễn Văn C, Nguyễn Trọng T, Trương Anh T2, Trần Trọng M, Trần Quốc B, điều tra viên Trần Đức T3 và dấu tròn đỏ của Công an thị trấn P1 do không có giá trị sử dụng.
- Trả cho bị cáo Cường 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 03 có chữ ký của Nguyễn Văn C, Nguyễn Trọng T, Trương Anh T2, Trần Trọng M, Trần Quốc B, điều tra viên Trần Đức T3 và dấu tròn đỏ của Công an thị trấn P1 do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 09/3/2020.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ: điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói kích thước (02cm x 3,5)cm đã cắt một đầu, 01 gói kích thước (1,5 x 02)cm có nẹp khóa kéo màu xanh lá đã cắt một đầu và 0,4062 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 228 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng Thích và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận; 01 gói nylon không màu có nẹp khóa màu đỏ kích thước (06 x 9,5)cm và 01 tờ giấy bạc được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 02 có chữ ký của Nguyễn Văn C, Nguyễn Trọng T, Trương Anh T2, Trần Trọng M, Trần Quốc B, điều tra viên Trần Đức T3 và dấu tròn đỏ của Công an thị trấn P1 do không có giá trị sử dụng.
- Trả cho bị cáo Cường 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen được niêm phong trong phong bì ký hiệu số 03 có chữ ký của Nguyễn Văn C, Nguyễn Trọng T, Trương Anh T2, Trần Trọng M, Trần Quốc B, điều tra viên Trần Đức T3 và dấu tròn đỏ của Công an thị trấn P1 do không liên quan đến hành vi phạm tội.
(Các vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/6/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong)
3. Về án phí:
Căn cứ: khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND huyện Tuy Phong; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Công an huyện Tuy Phong; - Những người tham gia tố tụng; - Chi cục THADS huyện Tuy Phong; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đồng Vũ |