- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân H tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 19…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:50/2020/HS-ST Ngày: 27/8/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thâm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Hồng Thiết
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Chiến.
Ông Đặng Văn Tần.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Thư ký Toà án nhân dân huyện TT, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT tham gia phiên toà: Ông Triệu Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TT, thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2020, đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân Hùng, SN 1990 tại xã BP, huyện TT, thành phố Hà Nội. ĐKHKTT: thôn ĐG, xã BP, huyện TT, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Cấn Thị Y, sinh năm 1966; Vợ là Lê Thị Lệ T , sinh năm 1991 và có 02 con lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2019;
Theo danh bản, chỉ bản số 153 lập ngày 26/5/2020, tại Công an huyện TT thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/5/2020, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội (có mặt).
Ngƣời làm chứng:
- Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Thôn ĐL, xã BP, huyện TT, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 40 phút ngày 24/5/2020 Nguyễn Xuân H dấu 01 gói ma túy Methamphetamine (thường gọi là ma túy đá) trong túi quần đang mặc bên phải rồi đi bộ đến nhà nghỉ PB thuộc thôn BX, xã BP, huyện TT, thành phố Hà Nội để sử dụng. Khi đi đến trước cửa nhà nghỉ PB thì lực lượng Công an xã BP kiểm tra phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tang vật thu giữ: 01 gói ni lông màu trắng có kích thước 2,5 x 2,5 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng cho vào phong bì dán kín có chữ ký niêm phong của Nguyễn Xuân H, dấu và chữ ký của cán bộ Công an xã BP, huyện TT, ký hiệu mẫu A1.
Xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu ngày 24/5/2020 của Nguyễn Xuân H xác định Dương tính với ma túy loại Methamphetamine.
Tại bản kết luận giám định số: 4225/KLGĐ-PC09 ngày 02/6/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội xác định tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu Mẫu A1 là ma túy loại Methamphetamine, cân nặng 0.299 gam.
Tại bản cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 10/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, thành phố Hà Nội truy tố bị Nguyễn Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quan điểm truy tố sau khi phân tích đánh giá hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 249; Điều 38; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo với mức án từ 15 đến 18 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xử lý vật chứng theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến gì với bản luận tội của Viện Kiểm sát không tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo con còn nhỏ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về diễn biến quá trình thực hiện hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều phù hợp với nhau phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và tang vật thu giữ được. Do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Nguyễn Xuân H là đối tượng nghiện ma túy, để thỏa mãn nhu cầu của mình bị cáo đã tìm mua ma túy về và cất dấu trong túi quần sau đó đến nhà nghỉ để sử dụng thì bị Công an xã BP kiểm tra bắt quả tang thu giữ 0.299 gam ma túy loại Methamphetamine bị cáo tàng trữ trong túi quần đang mặc bên phải.
Tại bản kết luận giám định số: 4225/KLGĐ-PC09 ngµy 02/6/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội xác định tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu Mẫu A1 là ma túy loại Methamphetamine, cân nặng 0.299 gam.
Với hành vi trên của bị cáo đã thực hiện thì bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội đã vi phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, làm tăng các tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự trị an xã hội, xâm hại đến sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc. Chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm và trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền. Những hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý là hiểm hoạ cho quốc gia cần phải được xử lý nghiêm, bởi đây là loại tội phạm đang bị xã hội lên án và tích cực đấu tranh phòng ngừa nhằm loại trừ nên cần phải xử lý nghiêm khắc.
Về tình tiết tăng tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu. Tình tiết nêu trên được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Căn cứ tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được viện dẫn Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly xã hội đối với bị cáo một thời gian để cải tạo, giáo dục phòng ngừa chung như mức đề nghị của Viện kiểm sát là thỏa đáng.
Về hình phạt bổ sung; theo quy định tại khoản 5, điều 249 Bộ luật hình sự 2015 quy định “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”
Xét hoàn cảnh của bị cáo là con nghiện, không có tài sản và không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên Hội đồng không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng:
Số ma túy đã thu giữ là chất cấm tàng trữ, vận chuyển, mua bán và sử dụng dưới mọi hình thức nên cần tịch thu tiêu hủy. Theo quy định tại các Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
1. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam là ngày 31/5/2020.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy chứa trong 01 phong bì là mẫu vật hoàn lại sau khi giám định.
Các vật chứng trên có đặc điểm ghi như trong biên bản giao nhận vật chứng số 22/2020/THA ngày 13/02/2020 giữa Công an huyện TT với Chi cục thi hành án dân sự huyện TT, thành phố Hà Nội.
3. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Công an huyện TT; - VKSND huyện TT; - Chi cục THA dân sự huyện TT; - TAND Thành phố Hà Nội; - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hồng Thiết |