vanban.org

Bản án 50/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La Tuyên án 08/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Minh N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Xử phạt bị cáo Lò Minh N 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08 tháng 9 năm 2020). Giao bị cáo Lò Minh N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lò Minh N - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Minh N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ YÊN
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2020/HS-ST
Ngày 08 - 9 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Lương Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Đặng Thị Hằng.

- Ông Đinh Công Ó.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Khánh Hòa – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hằng – Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 08 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2020/TLST – HS, ngày 13 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2020/QĐXXST – HS, ngày 26 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo: Lò Minh N (tên gọi khác: Không), sinh ngày 10 tháng 10 năm 1999 tại xã T, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: bản N, xã T, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo, đảng phái đoàn thể: không; Con ông Lò Văn K (đã chết) và bà Hoàng Thị P; có vợ Hoàng Thị H và 01 con 01 tuổi; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: ông Đặng Văn L, sinh năm 1919 (đã chết); Nơi cư trú: bản C, xã H, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Cầm Lưu P, sinh năm 1949; Nơi cư trú: bản C, xã H, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị P, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 31/3/2020 tại Km 08 + 260 Quốc lộ 43 thuộc địa phận bản C, xã H, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; Lò Minh N điều khiển xe không có giấy phép lái xe theo quy định, sử dụng chất ma túy trong khi điều khiển xe và đưa xe cơ giới (ô tô nhãn hiệu CHIENTHANG, mang biển kiểm soát 26C-019.35) không đảm bảo tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường tham gia giao thông đường bộ, chạy quá tốc độ quy định gây ra tai nạn giao thông, hậu quả làm ông Đặng Văn L, sinh năm 1919, trú tại bản C, xã H, huyện Phù Yên tử vong.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe ô tô BKS 26C-019.35, nhãn hiệu “CHIENTHANG”, loại xe tải tự đổ, màu sơn xanh; 01 vòng đệm bằng kim loại màu trắng, đường kính 5,6cm, 01 gioăng cao su đường kính 4,3cm; 01 chiếc quần đùi vải màu trắng, kẻ caro, quần chun, cỡ XL; 01 áo phông cộc tay cổ tròn màu xanh dương, mặt sau áo bám dính bùn đất và chất màu nâu đã khô;

Ngày 31/3/2020, vào hồi 15 giờ Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Phù Yên tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông với điều kiện về thời tiết, khí hậu, ánh sáng: Thời tiết râm mát, ánh sáng đảm bảo khám nghiệm. Kết quả:

“Vị trí số 1: Mặt đường phát hiện vết trượt đen số 1 (dạng phanh), vết liên tục, đầu vết mờ, đậm dần về cuối vết. Vết có kích thước dài 42,15m x rộng trung bình 0,24m, lớp bột đen trên bề mặt của vết đẩy dồn theo chiều Vạn Yên đi Gia Phù, đầu vết cách mép đường bên tau phải là 0,35m và cách điểm mốc đã được xác định là 29,58m, cuối vết cách mép đường bên phải là 2,97m và nằm phía dưới bánh lốp trong bên phải cầu sau xe ô tô tải BKS 26C-019.35. Vị trí số 2: Trên mặt đường và lề đường phát hiện vết trượt số 2 (dạng phanh), vết liên tục, đầu vết mờ và đậm dần về cuối vết. Vết có kích thước 32,19m x rộng trung bình 0,24m, lớp bột đen trên bề mặt cửa vế đẩy dồn theo hướng Vạn Yên đi Gia Phù, đầu vết cách mép đường bên tay phải là 1,82m và cách đầu vết trượt đen ở vị trí số 1 là 9,60m, cuối vết nằm phía dưới hàng bánh đôi bên trái cầu sau xe ô tô tải BKS 26C-019.35 và cách mép đường bên tay phải là 4,31m. Vị trí số 3: Mặt đường và lề đường bên tay trái phát hiện xe ô tô tải BKS 26C-019.35, nhãn hiệu “CHIENTHANG”, màu sơn xanh đang ở tư thế 06 bánh tiếp xúc với mặt đường. Đầu xe quay hướng Gia Phù, đuôi xe quay hương Vạn Yên, khoảng cách từ điểm giữa mép lốp ngoài bánh lốp ngoài cầu sau bên phải vị trí tiếp xúc với mặt đường của bánh lốp bên phải cách mép đường bên tay phải là 3,38m. Phần đầu thanh dẫn động cầu trước bên phải bị bật khỏi vị trí bắt giữ. Vị trí số 4: Mặt đường, lề đường bên trái phía dưới đầu xe ô tô tải BKS 26C-019.35 phát hiện 01 vết chất lỏng màu nâu (dạng máu), vết không rõ hình có kích thước 0,17m x 0,30m. Tâm vết cách mép đường bên phải là 4,17m và cách mép lốp ngoài vị trí tiếp xúc với mặt đường của bánh lốp trước bên phải của xe ô tô tải BKS 26C-019.35 là 1,14m.”

Ngày 31/3/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Phù Yên đã ra quyết định trưng cầu giám định số 67; Trưng cầu: Trung tâm Pháp y tỉnh Sơn La với nội dung yêu cầu giám định: Xác định nguyên nhân chết của ông Đặng Văn L. Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 62/TT, ngày 06/5/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Sơn La kết luận: “Nguyên nhân chết: Đa chấn thương: Chấn thương sọ não kín vỡ xương trán – thái dương phải do va đập là nguyên nhân gây tử vong.”

Ngày 31/3/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên kiểm tra nồng độ cồn đối với Lò Minh N. Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn lập hồi 14 giờ 01 phút tại Km08 QL43 thuộc địa phận bản C, xã H, huyện Phù Yên cho kết quả: nồng độ cồn ngày 31/3/2020 là 0,000mg/ml khí thở.

Ngày 31/3/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên yêu cầu xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Lò Minh N. Kết quả: Tại thông báo kết quả xét nghiệm ma túy bằng test thử nhanh của Trung tâm y tế xã H, kết quả xét nghiệm: Dương tính với ma túy; Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm y tế xã H, huyện Phù Yên: Kết quả: có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng: MDMA (thuốc lắc).”

Ngày 10/4/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên đã ra quyết định trưng cầu giám định số 72; Trưng cầu: Giám định viên tư pháp thuộc Sở Giao thông vận tải tỉnh Sơn La với nội dung yêu cầu giám định: “Tình trạng an toàn kỹ thuật phương tiện của xe ô tô BKS 26C-019.35”. Tại kết luận giám định ngày 20/4/2020 của Giám định viên tư pháp theo vụ việc thuộc Sở giao thông vận tải Sơn La kết luận:

“1. Kiểm tra thông tin kỹ thuật thực tế của xe, đối chiếu với hồ sơ cơ sở dữ liệu của Cục Đăng kiểm Việt Nam, hiện tại phương tiện xe ô tô Biển kiểm soát 26C-019.35 đã hết kiểm định, kiểm định có hiệu lực đến hết ngày 27/12/2017.

2. Hệ thống phanh: Phanh khí nén, cơ cấu phanh, dẫn động phanh hoạt động bình thường, không có hiện tượng bị rò khí. Hiện tại hệ thống phanh hoạt động bình thường.

3. Hệ thống lái: Vô lăng trái, trục lái, trụ lái còn đẩy đủ. Cơ cấu lái, thanh đòn dẫn động lái bị hư hỏng rời khỏi vị trí ban đầu. Hiện tại hệ thống lái hư hỏng không còn tác dụng, bánh xe trục 01 bên phải không chuyển hướng.

4. Hệ thống truyền lực: Hoạt động bình thường. Đúng hồ sơ kỹ thuật phương tiện.

5. Hệ thống treo: Lắp đặt chắc chắn. Đúng hồ sơ kỹ thuật phương tiện./.”

Tại biên bản làm việc hồi 19 giờ 10 phút ngày 31/3/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên về việc cân tịnh khối lượng cát trên xe ô tô BKS 26C-019.35, kết quả: Tải trọng (hàng hóa) trên xe khi xảy ra tai nạn là 5.040kg (không quá tải trọng cho phép).

Ngày 20/5/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên đã ra quyết định trưng cầu giám định số 87; Trưng cầu: Phòng PC09 Công an tỉnh Sơn La với nội dung yêu cầu giám định: “Vận tốc của xe ô tô BKS 26C-019.35 trong vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 31/3/2020”. Tại kết luận giám định số 782, ngày 21/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Vận tốc của xe ô tô BKS 26C-019.35 tại thời điểm xảy ra tai nạn từ 73km/h đến 80 km/h”.

Ngày 02/4/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Yên đã đề nghị Sở giao thông vận tải tỉnh Sơn La kiểm tra về việc tra cứu thông tin Giấy phép lái xe của Lò Minh N. Tại Công văn số 951/SGTVT-QLVT,PT&NL của Sở giao thông vận tải tỉnh Sơn La thông báo Sở Giao thông vận tải tỉnh Sơn La không cấp giấy phép lái xe cho ông Lò Minh N.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Lò Minh N khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 08h ngày 31/3/2020, bị cáo điều khiển xe ô tô đi từ nhà đến bản V, xã Tân Phong, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La chở cát thuê cho anh Nguyễn Đức Nam ở bản Khảo, xã H, huyện Phù Yên. Khi đi đến khu vực Km08 + 260m Quốc lộ 43 thuộc địa phận bản C, xã H, huyện Phù Yên thì thấy có một chiếc xe mô tô ngược chiều đi giữa đường nên N điều khiển xe ô tô sang bên phải để tránh và bánh xe ô tô phía trước bên phải đi vào đoạn đường ghồ ghề ở mặt đường bên phải làm các bộ phận giữ phần đầu rô tuyn bên phải thanh dẫn động lái xe ô tô bị rơi khỏi vị trí bắt giữ, làm bánh xe bên phải của ô tô mất kiểm soát. Thấy đầu xe ô tô bị rung, chiều hướng di chuyển lệch chéo sang bên trái đường nên N đánh tay lái (vô lăng) xe sang bên phải làm bánh xe phía trước bên phải bị trượt trên mặt đường, N tiếp tục phanh để dừng xe nhưng do đang chở cát nên làm bánh xe ô tô phía trước bên trái bị trượt trên mặt đường, chéo từ bên phải sang bên trái đường. Lúc này N thấy ông Đặng Văn L đang đi bộ bên trên lề đường bên trái theo hướng từ Vạn Yên đi vào xã H, N bấm còi và hô to để cảnh báo nhưng ông L (bị câm, điếc bẩm sinh) không nghe thấy. Do xe ô tô đang mất kiểm soát nên phần đầu xe ô tô đâm vào ông L làm ông bị ngã xuống đường, sau đó bánh xe phía trước bên trái đâm thẳng vào hộ lan mềm và hòn đá bên lề đường bên trái. Hậu quả ông Đặng Văn L bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Phù Yên. Đến 13 giờ 45 phút cùng ngày, ông L bị tử vong tại Bệnh viện đa khoa huyện Phù Yên.

Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa, Lò Minh N đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho gia đình ông L số tiền 40.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường, không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của người bị hại trình bày: Sau khi phạm tội bị cáo Lò Minh N đã tích cực cấp cứu cùng gia đình hỗ trợ việc chữa trị, sau khi ông L mất đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình nạn nhân và lo ma chay tang lễ cho ông L, gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền là 40.000.000,đ và không có yêu cầu bồi thường gì khác, tại phiên tòa đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và mong muốn Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương, trở thành người công dân có ích cho xã hội cũng như phòng ngừa chung và chăm lo cuộc sống cho cả gia đình.

Người có quyền lợi liên quan bà Hoàng Thị P trình bày: bà là đồng sở hữu hợp pháp xe ô tô tải BKS 26C-019.35, nhãn hiệu CHIENTHANG, màu sơn xanh được mua lại từ anh Giàng A G vào ngày 09/3/2020. Số tiền mua xe là tiền vay của em trai ruột là Hoàng Văn L, sinh năm 1978, trú tại bản Bùa Chung 1, xã T, huyện Phù Yên và số tiền bán sắt vụn của chiếc xe cũ của chồng sau khi chồng bà mất, ngoài ra còn một khoản tiền tiết kiệm của anh N đi làm thuê có được góp vào, gia đình bà mua xe để cho em ruột là anh L tạm thời sử dụng, đợi khi nào anh N đủ tuổi học được cấp giấy phép lái xe thì giao cho anh N sử dụng để nuôi sống gia đình vì hiện nay bà bị bệnh, vợ anh N không có công ăn việc làm, con còn nhỏ và còn có em trai đang tuổi đi học nên anh N phải nuôi sống cả gia đình. Khi bị cáo N sử dụng xe ô tô tham gia giao thông và gây tai nạn, bà hoàn toàn không biết và không được giao phương tiện hoặc cho phép bị cáo sử dụng xe tham gia giao thông. Bà có đề nghị được nhận lại chiếc xe ô tô để gia đình sửa chữa sử dụng để kiếm sống cho cả gia đình.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số: 51/CT-VKS, ngày 10/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La truy tố: Bị cáo Lò Minh N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lò Minh N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Áp dụng điểm a, b khoản 2 điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lò Minh N 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bà P 01 xe ô tô BKS 26C-019.35, nhãn hiệu “CHIENTHANG”, loại xe tải tự đổ, màu sơn xanh, tại vị trí má lốp ngoài bánh lốp trước bên trái có vết trượt xước, vị trí vành (lazang), bành trước bên trái có vết trượt xước, vị bắt giữ của đầu rô tuyn bên phải thanh dẫn động lái bánh trước (thanh ban gang) bị tuột khỏi vị trí ban đầu, xe cũ đã qua sử dụng và 01 vòng đệm bằng kim loại màu trắng, đường kính 5,6cm, 01 gioăng cao su đường kính 4,3cm

Tịch thu, tiêu hủy: 01 chiếc quần đùi vải màu trắng, kẻ caro, quần chun, cỡ XL, vị trí chân ống quần bên phải có 03 vết rách ngang, cũ đã qua sử dụng; 01 áo phông cộc tay cổ tròn màu xanh dương, mặt sau áo bám dính bùn đất và chất màu nâu đã khô, cũ đã qua sử dụng.

- Án phí: áp dụng điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586 và 591 Bộ luật Dân sự.

Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận đã bồi thường thiệt hại của gia đình bị cáo và gia đình bị hại số tiền 40.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội, bị cáo, người có quyền lợi liên quan không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đại diện gia đình bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Ngày 31/3/2020, bị cáo Lò Minh N đã có hành vi điều khiển xe ô tô chạy quá tốc độ quy định, không có giấy phép lái xe và điều khiển xe trong tình trạng có sử dụng chất ma túy, đưa xe cơ giới không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường tham gia giao thông đường bộ gây ra tai nạn làm ông Đặng Văn L tử vong.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội cũng như quyết định truy cố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:

- Bản tường trình; Lời khai nhận tội của bị cáo; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 62, ngày 06/5/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Sơn La; Biên bản kiểm tra nồng độ cồn rượu, bia trong hơi thở; Phiếu trả lời kết quả về xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm y tế xã H; Kết luận giám định ngày 20/4/2020 của Giám định viên tư pháp theo vụ việc thuộc Sở giao thông vận tải Sơn La; Kết luận giám định số 782, ngày 21/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; Công văn số 951/SGTVT-QLVT,PT&NL của Sở giao thông vận tải tỉnh Sơn La; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu; Các biên bản tạm giữ, giao trả đồ vật, tài liệu.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các nhân chứng, phù hợp với kết quả điều tra.

Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò Minh N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo N điều khiển xe ô tô không có giấy phép lái xe theo quy định, có sử dụng chất ma túy trong khi điều khiển xe và đưa xe cơ giới không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường tham gia giao thông đường bộ, chạy quá tốc độ quy định, gây ra tai nạn làm ông Đặng Văn L tử vong. Hành vi của bị cáo đã vi phạm điều 4, 8, 53 Luật giao thông đường bộ; vi phạm Điều 5, 7 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến đến sức khỏe, tính mạng, tinh thần, tài sản của người khác. Do đó, cần lên mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Về nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tích cực bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý nên cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo đang tại ngoại, có nơi cư trú rõ ràng, do đó xét xử bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo cũng như bảo đảm răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Ngoài hình phạt chính bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 260 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo không có tài sản có giá trị, thu nhập, công việc không ổn định, tuổi đời còn trẻ, phải chăm sóc mẹ đẻ bị nhiễm bệnh HIV và con còn nhỏ, vợ không có công ăn việc làm, còn phải nuôi em ruột đang ăn học do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lò Minh N.

Vật chứng vụ án: Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 xe ô tô BKS 26C-019.35, nhãn hiệu “CHIENTHANG”, loại xe tải tự đổ, màu sơn xanh, tại vị trí má lốp ngoài bánh lốp trước bên trái có vết trượt xước, vị trí vành (lazang), bành trước bên trái có vết trượt xước, vị bắt giữ của đầu rô tuyn bên phải thanh dẫn động lái bánh trước (thanh ba ngang) bị tuột khỏi vị trí ban đầu, xe cũ đã qua sử dụng và 01 vòng đệm bằng kim loại màu trắng, đường kính 5,6cm, 01 gioăng cao su đường kính 4,3cm. Xác định là tài sản của gia đình bà P, gia đình mua về để làm phương tiện kiếm sống nuôi gia đình, việc bị cáo sử dụng xe để đi chở vật liệu xây dựng bà P không được biết, không được giao cũng như không nhất trí cho phép bị cáo sử dụng do đó cần trả lại cho bà P quản lý.

Đối 01 chiếc quần đùi vải màu trắng, kẻ caro, quần chun, cỡ XL, vị trí chân ông quần bên phải có 03 vết rách ngang, cũ đã qua sử dụng; 01 áo phông cộc tay cổ tròn màu xanh dương, mặt sau áo bám dính bùn đất và chất màu nâu đã khô, cũ đã qua sử dụng, xác định là quần áo của ông L mặc khi bị tại nạn, tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị tiêu hủy số tài sản trên, xét thấy số quần áo của ông L hiện không còn giá trị sử dụng và gia đình không lấy lại, do đó cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, hai bên gia đình đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại của gia đình bị cáo và gia đình bị hại số tiền 40.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại nhận đủ số tiền bồi thường và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, căn cứ vào các điều 584, 585, 586 và 591 Bộ luật dân sự, cần chấp nhận.

Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc diện gia đình chính sách (hộ cận nghèo) theo Quyết định số 185/QĐ-UBND ngày 30/12/2019 của xã T, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, căn cứ vào điều 12 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 điều 51; điều 54; điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lò Minh N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

- Xử phạt bị cáo Lò Minh N 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08 tháng 9 năm 2020).

Giao bị cáo Lò Minh N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La giám sát và giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bà Hoàng Thị P 01 xe ô tô BKS 26C - 019.35, nhãn hiệu “CHIENTHANG”, loại xe tải tự đổ, màu sơn xanh, tại vị trí má lốp ngoài bánh lốp trước bên trái có vết trượt xước, vị trí vành (lazang), bánh trước bên trái có vết trượt xước, vị bắt giữ của đầu rô tuyn bên phải thanh dẫn động lái bánh trước (thanh ba ngang) bị tuột khỏi vị trí ban đầu, xe cũ đã qua sử dụng và 01 (Một) phong bì dán kín niêm phong bên trong có 01 vòng đệm (long đen) bằng kim loại màu trắng, đường kính 5,6cm; 01 gioăng cao su đường kính 4,3cm;

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) hộp giấy được dán kín niêm phong bên trong có 01 chiếc quần đùi vải màu trắng, kẻ caro, quần chun, cỡ XL, tại vị trí chân ống quần bên phải có 03 vết rách ngang, vết thứ nhất kích thước 05cm, vết thứ hai kích thước 07cm, vết thứ ba kích thước 7,3cm, quần cũ đã qua sử dụng và 01 áo phông cộc tay cổ tròn màu xanh dương, mặt sau áo bám dính bùn đất và chất màu nâu đã khô, phần phía trước áo có vết cắt dọc áo, cũ đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 59/BB – GNVC, ngày 12/8/2020 giữa Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La).

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 584, 585, 586 và 591 Bộ luật Dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận đã bồi thường thiệt hại của bị cáo và gia đình bị hại số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 điều 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Minh N.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự: Bị cáo Lò Minh N; Người đại diện hợp pháp của bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 08 tháng 9 năm 2020.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THÂM

Cỡ chữ