vanban.org

Bản án 50/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 11/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội d A: Bị cáo Trần Văn L và Lê Tuấn A, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về mức h ình phạt: Xử phạt b ị cáo Trần Văn L: 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp h ành hình phạt t ù tính từ ng ày tạm giữ: 15 /4/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "L và A tàng trữ ma túy để sử dụng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội d A: Bị cáo Trần Văn L và Lê Tuấn A, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố t ụng h ình sự; Điều 17 Bộ luật h ình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H À TRUNG
TỈNH TH A HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 50/2020/HS-ST
Ngày: 11/8/2020

NHÂN DA

NƯ ỚC CỘNG HO

À XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈ NH THA HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà: Ông Hoàng Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân : 1. Ông Trần Ngọc Châu

2. Ông Đoàn Thân

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Nhạn - Thư k ý Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Th A Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh ThA Hoá tham gia phiên toà: Ông Đỗ Tuấn Anh - Kiểm sát vi ên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh ThA Hoá, xét xử s ơ th ẩm công khai vụ án h ình sự sơ th ẩm thụ lý số 51/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2020, theo Quyế t định đ ưa v ụ án ra xét xử số 54/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2020 đối với các bị cáo :

1/ Trần Văn L, sinh năm 1983; Tại: xã N, huyện N , tỉnh ThA Hóa; Nơi cư trú: Xóm 5, xã N, huyện N , tỉnh Th A Hóa; Nghề nghiệp: L ao động tự do ; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam ; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn L và bà Lạ i Thị H ; Có vợ là Trần Thị N và có 03 con; Tiền sự : Không; Tiền án: Không. Nhân thân: Ngày 17/10/2013 bị T òa án nhân dân tỉnh Th A Hóa xử phạt 30 tháng t ù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” ra trại ng ày 05/8/2015. Bị bắt t ạm giữ từ ng ày 15/4/2020 đến ng ày 24/4/2020 chuyển tạm giam cho đến nay; Có mặt.

2/ Lê Tuấn A, sinh năm 1997; Tại: x ã N, huyện N , tỉnh Th A Hóa; Nơi cư

trú: Xóm 1, xã N, huyện N , tỉnh Th A Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tr

ình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn A và bà Trương Th ị T ; Chưa có v ợ ; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị bắt tạm giữ từ ng

ày 15/4/2020 đến ng ày 24/4/2020 chuyển tạm giam cho đến nay; Có mặt.

NỘI DUNG V Ụ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án v à diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ án đư ợc tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15/4/2020, Trần Văn L gọi điện thoại cho L ê Tuấn A và bảo “đến đón A và đi lấy h àng về ch ơi” ( ý của L là rủ Tuấn A đi mua ma túy về sử dụng), hiểu ý của

L nên Tuấn A đồng ý. Sau đó Tuấn A điều khiển xe mô tô BKS 36H4 -4218 của mẹ m ình là bà Trương Th ị T đến đón L, sau đó L chở Tuấn A lên huyện H à Trung để mua ma túy. Khi đến gần chợ Đ

ò Lèn thì L điều khiển xe mô tô đi v ào khu dân cư thôn Thư ợng Quý, thị trấn H à Trung, đi đến đoạn đ ư ờng có mái tôn, L dừng xe v à bảo với Tuấn

A ở lại trông xe còn L đi bộ đến chỗ

một ng ư ời m à L không quen biết đang đứng b ên đư ờng cách chỗ d ừng xe khoảng 10 mét. L bảo “cho em 400.000đồng tiền h àng” hiểu ý L hỏi mua ma túy nên ngư ời nay không nói g ì và L lấy tiền của m ình đưa cho ngư ời n ày 400.000đồng rồi ng ư ời n ày đưa l ại cho L 01 gói ma túy, bên ngoài bọc bằng nilong màu đen, L cầm gói ma túy ở tay trái đi bộ lại chỗ Tuấn

A đang đứng chờ rồi chở Tuấn A đi về. Khi đi đến đoạn đ ư ờng đ ê sông Đò Lèn thuộc tiểu khu 3, thị trấn H

à Trung thì bị tổ công tác Công an huyện v à Công an thị trấn H à Trung yêu cầu dừng xe kiểm tra. D o sợ bị phát hiện n ên L đã thả gói ma túy đang cầm ở tay trái xuống đư ờng cạnh chỗ dừng xe.

Tổ công tác đ ã lập bi ên bản bắt ng ư ời phạm tội quả tang, thu giữ, ni êm phong vật chứng.

Tại bản kết luận giám định số:

1200/PC09 ngày 22/4/2020 của Ph òng kỹ thuật h ình sự Công an tỉnh Th A Hoá kết luận: Chất bột m àu trắng ng à dạng cục vụn của phong b ì niêm phong gửi giám định l à ma túy có trọng l ư ợng (khối l ư ợng) 0,344gam loại: Heroine.

Tại bản cáo trạng số

58/CT-VKSHT ngày 27/7/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Hà Trung, tỉnh Th A Hoá đã truy tố Trần Văn L và Lê Tuấn A về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật h ình sự.

Tại phi ên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H

à Trung giữ nguy ên quyết định truy tố v à đề ng hị áp dụng: Điểm c khoản 1

Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 ; Điều 17; Điều 58 Bộ luật h ình sự. Đề nghị xử phạt

Trần Văn L từ 24 tháng đến 30 tháng tù; Lê Tuấn A từ 21 tháng đến 24 tháng tù; Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng h

ình sự, t ịch thu ti êu hủy to àn bộ chất ma túy l à Heroine là mẫu vật c òn lại sau giám định và không áp dụng h ình phạt bổ sung l à tiền đối với các bị cáo.

Lời nói sau cùng các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật . Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm đư ợc trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA T

ÒA ÁN:

Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v

ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc trA tụng tại phi ên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh

ư sau:

[1]. Về h ành vi, quyết địn h tố tụng của C

ơ quan đi ều tra Công an huyện Hà Trung, Điều tra vi ên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, Kiểm sát vi ên trong quá trình điều tra , truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr ình tự , thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng h

ình sự . Quá trình điều tra , truy tố và tại p hiên tòa, bị cáo và những ng ư ời tham gia tố tụng

không có ý kiến hoặc khiếu nại về h

ành vi, quyết định của C ơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của

Cơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng đ ã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về h ành vi phạm tội của

các bị cáo: Tại phi ên tòa, bị cáo Trần Văn L và Lê Tuấn A đã thành khẩn khai nhận to àn bộ h ành vi phạm tội của m ình đúng như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố

. Đối chiếu lời khai nhận của

các bị cáo v ới lời khai của ng ư ời làm chứng , kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ v ụ án là hoàn toàn phù hợ p; Hội đồng xét xử

có đủ c ơ s ở kết luận : Vào hồi 23 giờ 30 phút ngày 15/4/2020, tổ công tác C ông an huyện H à Trung phối hợp với Công an thị trấn H à Trung tuần tra kiểm soát an ninh trật tự tại đoạn đ

ư ờng đ ê sông Đò Lèn thuộc tiểu khu 3, thị trấn H

à Trung, huyện H à Trung thì phát hiện Trần Văn L điều khiển xe mô tô BKS 36H4-4218 chở phía sau l à Lê Tuấn A có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến h ành dừng xe để kiểm tra th

ì L thả 01 gói nhỏ m àu đen từ tay trái xuống đ ư ờng ngay cạnh vị trí dừng xe. Tổ công tác đ

ã lập bi ên bản bắt ng ư ời phạm tội quả tang, tiến

hành thu giữ v à niêm phong vật chứng . Gói ma túy có trọng lư ợng (khối l ư ợng) 0,344gam loại Heroin e. Như v ậy h ành vi của các bị cáo đ ã phạm tội “T àng trữ trái phép chất ma túy” .

[3]. Về tính chất, mức độ nghi

êm trọng của h ành vi phạm tội : Hành vi tàng trữ phép chất ma tuý của

các bị cáo đã trực tiếp x âm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nh à nư ớc về chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an to

àn xã hội, h ành vi đó là rất nghi êm trọng, mang tính nguy hiểm cao cho x ã hội. Các bị cáo phải biết rằng ma tuý l à hiểm hoạ, l à nguyên nhân gây ra sự suy thoái về đạo đức v à cũng l à nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh h

ư ởng lớn đến trật tự trị an x

ã hội. Căn cứ v ào hành vi phạm tội của

các bị cáo cần phải đ ư ợc x ử lý nghi êm khắc để giáo dục c ác bị cáo và nhằm cảnh tỉnh răn đe ph òng ngừa những kẻ có

ý đồ phạm tội như các các bị cáo. N ên cần xử cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng x

ã hội một thời gian để cải tạo giáo dục l

à cần thiết .

Là vụ án có hai bị cáo tham gia thực hiện h ành vi phạm tội nh ưng không có sự câu kết chặt chẽ n

ên chỉ l à đồng phạm giả n đơn. Các b ị cáo c ùng tham gia một thời điểm. L là ngư ời khởi x ư ớng , có tiền v à là ngư ời trực tiếp mua ma túy

nên có vai trò thứ nhất, mức h

ình phạt cao h ơn Tuấn A.

[4]. Về tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm h ình sự:

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự . Đối với L, ngày 17/10/2013 bị T òa án nhân dân tỉnh Th A Hóa xử phạt 30 tháng t ù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Nay đ ã đư ợc xóa án tích, đây thể hiện bị cáo xem thư ờng pháp luật, không chịu tu d ư ỡng bản thân, nay phạm tội c ùng loại, nên cần xem xét khi quyết định h ình phạt.

Trong quá trình điều tra v à tại phi ên tòa, các bị cáo đ ã thành khẩn khai báo. Nên cần áp dụng điểm s khoản 1

Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một ph

ần h ình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy đ ư ợc sự khoan hồng của pháp luật.

[5]. Về h ình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật các bị cáo có thể bị áp dụng h ình phạt bổ sung l à phạt tiền . Tuy nhiên các bị cáo l à lao động tự do, không có thu nhập , là đối t ư ợng nghiện ma túy, không có tài sản ri êng, số l ư ợng chất ma túy tàng trữ không nhằm mục đích kiếm lời

. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng h ình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Số Heroin (vật chứng c

òn lại sau giám định) thu đư ợc của c ác bị cáo là vật Nh à nư ớc cấm l ưu h ành nên cần tịch thu ti êu huỷ.

Đối với c hiếc xe mô tô BKS 36 H4-4218 các bị cáo sử dụng đi mua ma túy l à của bà Trương Th ị T (mẹ Tuấn A), bà Tính không biết Tuấn A dùng xe đi mua ma túy, Cơ quan đi ều tra đã trả lại cho b à Trương Th ị T là chính xác.

Hai chiếc điện thoại

của L và Tuấn A dùng để li ên lạc rủ mua ma túy, tr ong quá trình đi mua ma túy L và Tuấn A đã làm rơi, nên CQĐT không thu lại đ ư ợc.

[7]. Đối với ngư ời đàn ông bán ma túy cho các bị cáo, do các bị cáo không biết tên tuổi , địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.

[8]. Các bị cáo phải chịu án phí h ình sự s ơ th ẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ tr ên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ v ào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s

khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật h

ình sự.

- Về tội d A: Bị cáo Trần Văn L và Lê Tuấn A, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về mức h ình phạt:

Xử phạt b ị cáo Trần Văn L: 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp h ành hình phạt t ù tính từ ng ày tạm giữ: 15 /4/2020.

Xử phạt b ị cáo Lê Tuấn A: 21 (Hai mươi m ốt) tháng tù. Thời hạn chấp h ành hình phạt t ù tính từ ng ày tạm giữ: 15 /4/2020.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật h

ình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t

ụng h ình sự;

Tịch thu ti êu huỷ số Heroin c òn lại sau giám định có trong b ì niêm phong của Ph òng kỹ thuật h ình sự Công an tỉnh Th A Hóa.

(Hiện đang đ ư ợc l ưu gi ữ tại Chi cục thi h

ành án huyện H à Trung theo biên bản giao nhận ng ày 03/8/2020).

- Về án phí: Á p dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng h

ình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng

ày 30/12/2016 của Ủy ban th ư ờng vụ Quốc Hội, buộc bị cáo

Trần Văn L và Lê Tuấn A, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí h ình sự s ơ th ẩm.

Trư ờng hợp bản án đ ư ợc thi h ành theo Điều 2 Luật thi h ành án dân sự th ì ngư ời phải thi h ành án dân sự có quyền y êu cầu thi h ành án, tự nguyện thi h ành án hoặc bị c ư ỡng chế thi h ành án theo quy định tại các điều 6, 7 v à 9 Luật thi h ành án dân sự. Thời hiệu thi h

ành án đư ợc thực hiện theo điều 30 Luật thi h

ành án dân sự.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án n ày trong hạn 15 ngày kể từ ng ày tuyên án.

Cỡ chữ