vanban.org

Bản án 50/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 05/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thị L; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2020/HS-ST ngày 30/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Dương.

Áp d ng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Xử ph t bị cáo Vũ Thị L 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh b c” thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án được khấu trừ thời gian… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thị L - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thị L; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2020/HS-ST ngày 30/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Dương.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2020/HS-PT
Ngày: 11/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Th m phán - Ch t a phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sang;

Th m phán thành viên: Ông Lê Quân Vương;

Ông Trương Văn Lộc

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2020 t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà xét xử công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số 34/2020/TLPT-HS ngày 06/3/2020 đối với bị cáo Vũ Thị L. Do có kháng cáo của bị cáo Vũ Thị L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2020/HS-ST ngày 22/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Dương.

Bị cáo có kháng cáo:

Vũ Thị L (tên gọi khác 7 Giếng) sinh năm 1975, t i tỉnh Thanh Hóa; hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: C o mủ cao su; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Vũ Văn H(chết) và bà Lê Thị C sinh năm 1953; bị cáo có chồng tên là Ph m Văn B sinh năm 1948; có 03 người con (lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2000); tiền sự: Không; tiền án: Ngày 25/12/2017, bị Tòa án nhân dân huyện B xử ph t 10.000.000 đồng về tội “Đánh b c” theo Bản án số 41/2017/HS-ST (bị cáo đóng ph t ngày 07/11/2019); bị cáo bị t m giữ từ ngày 31/10/2019 đến ngày 08/11/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh, bị cáo t i ngo i (có mặt).

Ngoài ra, bản án còn có 02 bị cáo khác người có quyền lợi nghĩa v liên quan nhưng không kháng cáo không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 30/10/2019, Lê Thị T đi đến nhà Đỗ Huỳnh Như H chơi thấy có Nguyễn Xuân T, Ph m Thị Mỹ L đang vườn cao su phía trước nhà Đỗ Huỳnh Như H. Lúc này, Lê Thị T rủ cả nhóm chơi đánh bài tiến lên thắng thua bằng tiền mỗi ván từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng, Đỗ Huỳnh Như H đi mua một bộ bài tây 52 lá mang về để chơi. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, bị lượng lực Công an huyện B phối hợp cùng Công an xã T tiến hành kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt nguời có hành vi ph m tội quả tang và mời về tr s Công an làm việc. Vật chứng thu giữ bao gồm 01 (một) bộ bài tây lo i 52 lá đã qua sử d ng; số tiền 40.000 đồng trên chiếu b c; số tiền 8.910.000 đồng và 01 (một) điện tho i di động hiệu Samsung màu đen và 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone, màu vàng của Nguyễn Xuân T; số tiền 580.000 đồng của Đỗ Huỳnh Như H; số tiền 10.000 đồng và 01 (một) điện tho i di động hiệu Nokia, màu đen của Ph m Thị Mỹ L; số tiền 6.579.000 đồng của Lê Thị T; 01(một) cái bao trắng sử d ng làm chiếu b c; 01(một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu vàng đen biển số 61U2-9948, số khung: Y262277, số máy: 5C64262286.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Nguyễn Xuân T mang theo số tiền 9.001.000 đồng, sử d ng 500.000 đồng đánh b c. Quá trình đánh b c thua 80.000 đồng. Khi bị bắt thu giữ trên người số tiền 8.901.000 đồng và 20.000 đồng trên chiếu b c. Đỗ Huỳnh Như H mang theo số tiền 610.000 đồng, sử d ng 10.000 đồng mua 01(một) bộ bài tây 52 lá, số tiền còn l i sử d ng hết để đánh b c. Quá trình đánh b c thua 20.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trên người số tiền 580.000 đồng và 10.000 đồng trên chiếu b c. Ph m Thị Mỹ L mang theo số tiền 40.000 đồng, sử d ng hết số tiền này để đánh b c. Quá trình đánh b c thua 30.000 đồng, khi bị bắt còn l i 10.000 đồng. Lê Thị T mang theo số tiền 6.469.000 đồng, sử d ng 469.000 đồng để đánh b c. Quá trình đánh b c thắng được 120.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trên người số tiền 6.579.000 đồng trên người và 10.000 đồng trên chiếu b c. Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Xuân T cùng các đối tượng Đỗ Huỳnh Như H, Ph m Thị Mỹ L và Lê Thị T sử d ng để đánh b c là 1.609.000 đồng.

Qua kiểm tra điện tho i của Nguyễn Xuân T phát hiện có nhiều tin nhắn thể hiện việc Ph m Xuân T bán số đề vào ngày 29/10/2019. Quá trình điều tra xác định được như sau:

Khoảng giữa tháng 10 năm 2019 Nguyễn Xuân T thỏa thuận với Trần Hữu V để Nguyễn Xuân T đứng ra bán số đề rồi giao l i cho Trần Hữu V hư ng tiền hoa hồng với mức 05% trên số tiền ghi đề. Hình thức bán số đề: Trong ngày, căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết của đài Miền Bắc và đài Miền Nam (đài Miền Nam thì lấy kết quả của đài chính đài chính ngày 29/10/2019 là xổ số kiến thiết tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu). Đối với đài Miền Bắc: Nếu con b c mua bao lô 1.000 đồng thì số tiền con b c phải trả là 20.000 đồng, nếu trúng được 70.000 đồng. Xỉu chủ đầu đuôi là số có ba chữ số được so với giải sáu và ba số cuối của giải đặc biệt mua 1.000 đồng thì số tiền con b c phải trả là 4.000 đồng, nếu trúng thì được 600.000 đồng. Số đó là khi mua hai cặp số đá với nhau nếu so kết quả có cả hai cặp đã mua thì thắng mua 1.000 đồng thì con b c phải trả số tiền 50.000 đồng nếu trúng thì được 700.000 đồng. Đối với đài Miền Nam: Bao lô 1.000 đồng thì con b c phải trả là 14.000 đồng, nếu trúng thì được 70.000 đồng. Xỉu chủ đầu đuôi cũng tương tự như của đài Miền Bắc nhưng đài Miền Nam thì kết quả so với giải bảy và 03 số cuối của giải đặc biệt mua 1.000 đồng thì con b c phải trả số tiền 2.000 đồng, nếu trúng thì được 600.000 đồng. Hàng ngày, Nguyễn Xuân T bán số đề cho các con b c có nhu cầu rồi sử d ng điện tho i có số thuê bao 0374709015 nhắn tin giao phơi đề qua số điện tho i 0786437865 của Trần Hữu V, nếu Trần Hữu V đồng ý thì sẽ nhắn l i là “OK”.

Ngày 29/10/2019, Nguyễn Xuân T đã bán số đề cho Vũ Thị L đối tượng Trương Kim P và Lê Hồng D, c thể:

Khoảng 17 giờ, ngày 29/10/2019, Vũ Thị L sử d ng điện tho i có số thuê bao 0915578724 gọi vào số điện tho i 0374709015 của Nguyễn Xuân T để mua số đề của đài Miền Bắc gồm các số: Bao lô số 272 5.000 đồng; bao lô số 72, 65 mỗi số 20.000 đồng và đá 4.000 đồng; bao lô số 72, 28 mỗi số 20.000 đồng và đá 4.000 đồng; bao lô số 75, 82 mỗi số 20.000 đồng và đá 4.000 đồng; bao lô số 75, 28 mỗi số 20.000 đồng và đá 4.000 đồng. Tổng số Vũ Thị L mua số đề là 4.100.000 đồng, Vũ Thị L chưa trả cho Ph m Xuân T. Khi có kết quả xổ số, Vũ Thị L trúng bao lô các số 72, 28, 82, 8 và số đá 72 28 với tổng số tiền thắng là 9.800.000 đồng. Sáng ngày 30/10/2019, Ph m Xuân T đến nhà trả tiền thắng cho Vũ Thị L, do Vũ Thị L có nợ của Ph m Xuân T số tiền 1.600.000 đồng và trừ đi số tiền mua số đề là 4.100.000 đồng nên Ph m Xuân T đã trả cho Vũ Thị L số tiền thắng là 4.100.000 đông. Tổng số tiền Vũ Thị L tham gia đánh b c đài Miền Bắc là 13.900.000 đồng.

Khoảng 15 giờ ngày 29/10/2019, Trương Kim P sử d ng số điện tho i 0397569577 nhắn tin vào số điện tho i 0374709015 của Nguyễn Xuân T để mua số để đài Miền Nam các số sau: Bao lô số 23 và 28 mỗi số 20.000 đồng; đầu đuôi xỉu chủ số 223 và 228 mỗi số 70.000 đồng, tổng số tiền mua số đề đài Miền Nam của Trương Kim P phải trả là 840.000 đồng, Trương Kim P chưa đưa tiền cho Ph m Xuân T. Đến 17 giờ cùng ngày, khi có kết quả xổ số Trương Kim P trúng bao lô số 28 được số tiền 1.400.000 đồng. Trương Kim P tiếp t c nhắn tin cho Ph m Xuân T để mua số đề của đài Miền Bắc gồm các số như sau: Bao lô số 23 và 28, mỗi số 20.000 đồng. Tổng số tiền mua số đề của đài Miền Bắc, Trương Kim P phải trả là 800.000 đồng. Đến khi có kết quả xổ số đài Miền Bắc, Trương Kim P trúng được cả hai số 23 và 28 với tổng số tiền là 2.800.000 đồng. Sáng ngày 30/10/2019, Nguyễn Xuân T đã trả tiền thắng cho Trương Kim P, trừ đi số tiền mua số đề thì Trương Kim P nhận được số tiền 2.500.000 đồng. Tổng số tiền Trương Kim P tham gia đánh b c đài Miền Nam là 2.240.000 đồng, còn đài Miền Bắc là 3.600.000 đồng.

Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 29/10/2019, Lê Hồng D đi bộ qua nhà của Nguyễn Xuân T để mua số đề của đài Miền Bắc các số như sau: Bao lô số 37 và 73 mỗi số 5.000 đồng, số tiền mua số đề Lê Hồng D phải trả là 200.000 đồng, Lê Hồng D đã đưa tiền cho Ph m Xuân T. Khi có kết quả xổ số thì Lê Hồng D không trúng. Tổng số tiền Lê Hồng D tham gia đánh b c đài Miền Bắc là 200.000 đồng.

Sau khi có kết quả xổ số, Nguyễn Xuân T nhắn tin cho Trần Hữu V để tổng kết số tiền các con b c mua số đề và số tiền phải trả cho các con b c trúng đề. Kết quả ngày 29/10/2019, tổng số tiền Ph m Xuân T và Trần Hữu V bán số để cho các con b c là 5.940.000 đồng, tổng số tiền Trần Hữu V phải trả cho các con b c trúng để là 8.060.000 đồng. Sáng ngày 30/10/2019, Ph m Xuân T đã đến nhà Trần Hữu V lấy số tiền 8.000.000 đồng để trả cho các con b c. Ngoài ra, Nguyễn Xuân Trần Hữu V còn trả cho Ph m Xuân T số tiền hoa hồng bán số đề ngày 29/10/2019 là 300.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Xuân T và Trần Hữu V tham gia đánh b c là 19.940.000 đồng.

T i Bản án hình sự số 03/2020/HS-ST ngày 30/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Dương: Tuyên bố các bị cáo Trần Hữu V, Nguyễn Xuân T và Vũ Thị L ph m tội “Đánh b c”.

- Áp d ng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử ph t bị cáo Trần Hữu V 12 (mười hai) tháng cải t o không giam giữ được khấu trừ thời gian t m giữ từ ngày 31/10/2019 đến ngày 08/11/2019 tương đương 27 (hai mươi bảy) ngày cải t o không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 03 (ba) ngày cải t o không giam giữ. Thời h n cải t o không giam giữ tính kể từ ngày Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương nhận được Bản án và Quyết định thi hành án. Xử ph t bổ sung bị cáo Trần Hữu V số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

- Áp d ng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử ph t bị cáo Nguyễn Xuân T 15 (mười lăm) tháng cải t o không giam giữ được khấu trừ thời gian t m giữ từ ngày 31/10/2019 đến ngày 08/11/2019 tương đương 27 (hai mươi bảy) ngày cải t o không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 03 (ba) ngày cải t o không giam giữ. Thời h n cải t o không giam giữ tính kể từ ngày Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương nhận được Bản án và Quyết định thi hành án. Xử ph t bổ sung bị cáo Nguyễn Xuân T số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

- Áp d ng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 điểm h khoản 2 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử ph t bị cáo Vũ Thị L 06 (sáu) tháng tù. Thời h n tù tính từ ngày bắt thi hành án được khấu trừ thời gian t m giữ từ ngày 31/10/2019 đến ngày 08/11/2019.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí xử lý vật chứng và quyền kháng cáo.

Ngày 30/01/2020, các bị cáo Vũ Thị L kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t.

T i phiên tòa bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Về thời h n kháng cáo đơn kháng cáo của bị cáo Vũ Thị L còn trong thời h n luật định nên Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa v án ra xét xử theo thủ t c phúc thẩm là đúng theo quy định t i các Điều 332 333 Bộ luật Tố t ng hình sự. Về nội dung t i phiên tòa bị cáo Vũ Thị L khai nhận hành vi ph m tội như nội dung bản án sơ thẩm. Khi quyết định hình ph t Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để xử ph t bị cáo 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh b c” theo quy định t i khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là đúng người đúng tội đúng quy định của pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác. Do đó, không có cơ s để chấp nhận kháng cáo của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Trong lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo để bị cáo có cơ hội chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

T i phiên tòa bị cáo Vũ Thị L khai nhận hành vi ph m tội như nội dung bản án sơ thẩm xác định: Ngày 30/10/2019, công an huyện B phối hợp cùng công an xã T tiến hành kiểm tra, phát hiện Nguyễn Xuân T cùng các đối tượng Đỗ Huỳnh Như H, Ph m Thị Mỹ Lvà Lê Thị Tcùng nhau đánh b c thắng thua bằng tiền t i nhà của Lê Thị Tnên mời tất cả về tr s công an xã T làm việc xác định tổng số tiền Ph m Xuân T, Hảo, Linh, Tỵ sử d ng để đánh b c là 1.609.000 đồng. Qua kiểm tra điện tho i của Nguyễn Xuân T phát hiện: Ngày 29/10/2019, Nguyễn Xuân T ghi số đề cho bị cáo Vũ Thị L với số tiền 13.900.000 đồng đối tượng Trương Kim P(đài Miền Nam) 2.240.000 đồng, (đài Miền Bắc) 3 600.000 đồng đối tượng Lê Hồng D số tiền 200.000 đồng. Sau đó bị cáo Ph m Xuân T sử d ng điện tho i chuyển toàn bộ số tiền mua số đề trên cho Trần Hữu V. Tổng số tiền các bị cáo Ph m Xuân T, Trần Hữu V tham gia đánh b c là 19.940.000 đồng, bị cáo Vũ Thị L tham gia đánh b c là 13.900.000 đồng. Như vậy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Vũ Thị L về tội “Đánh b c” theo quy định t i khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Vũ Thị L về việc xin giảm nhẹ hình ph t:

Bị cáo kháng cáo với lý do hoàn cảnh kinh tế khó khăn là lao động chính cho gia đình sau khi ph m tội bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. T i phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới.

Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định t i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì việc bị cáo giao nộp l i tiền thu lợi bất chính không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự t i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định t i điểm b (tự nguyện bồi thường khắc ph c hậu quả) khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Vũ Thị L là không đúng quy định pháp luật số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc đánh b c trái phép phải buộc bị cáo nộp l i để sung vào ngân sách nhà nước theo quy định t i Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trường hợp bị cáo tự nguyện nộp l i thì có thể xem xét để áp d ng tình tiết giảm nhẹ theo quy định t i khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ thực hiện tội ph m của bị cáo bị cáo có tiền án về tội “Đánh b c” chưa được xóa án tích l i tiếp t c ph m tội mới cho thấy bị cáo không có khả năng tự cải t o nên xử ph t bị cáo 06 tháng tù nhằm m c đích răn đe giáo d c đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ thực hiện tội ph m của bị cáo và tình hình trật tự xã hội t i địa phương. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ s chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Ý kiến của đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giải quyết v án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Án phí phúc thẩm: Bị cáo Vũ Thị L phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thị L; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2020/HS-ST ngày 30/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện B tỉnh Bình Dương.

Áp d ng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Xử ph t bị cáo Vũ Thị L 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh b c” thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án được khấu trừ thời gian đã t m giữ từ ngày 31/10/2019 đến ngày 08/11/2019.

2. Án phí phúc thẩm: Áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Vũ Thị L phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ