vanban.org

Bản án 50/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N đối với ông Nguyễn Hoài P về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn ".

Cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn ông Nguyễn Hoài P. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoài N, sinh ngày 26/12/2005 cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Hoài Bảo T, sinh ngày 18/12/2010 cho ông Nguyễn Hoài P trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N đối với ông Nguyễn Hoài P về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn ".
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2020/HNGĐ - ST
Ngày: 29/9/2020
V/v tranh chấp “Ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Bảo Huyền Trân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hồng

2. Ông Trần Lâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29/9/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 166/2020/TLST-HNGĐ ngày 07/5/2020 về việc "Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/8/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 166/2020/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:

- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1985; - Nguyên đơn. (Có mặt)

- Ông Nguyễn Hoài P, sinh năm: 1970; - Bị đơn (Vắng mặt)

Cùng trú tại: Kxx/xx đường L, phường Tân Chính, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 12/7/2020, biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi kết hôn với ông Nguyễn Hoài P vào năm 2005 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Tân Chính, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mẫu thuẫn do tính tính và quan điểm sống của chúng tôi không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vả, to tiếng, ông P cũng thường xuyên có hành vi đánh đập tôi. Hiện nay, vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người mỗi nơi, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn nếu có kéo dài cũng không có hạnh phúc N tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Nguyễn Hoài P.

- Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị N xác định có 02 con chung: Nguyễn Hoài Bảo T, sinh ngày 18/12/2010 và Nguyễn Hoài N, sinh ngày 26/12/2005. Ly hôn, bà N sẽ trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung chưa thành niên Nguyễn Hoài N, sinh ngày 26/12/2005 và ông P sẽ trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung chưa thành niên Nguyễn Hoài Bảo T, sinh ngày 18/12/2010; không bên nào cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà N xác định không có.

* Ông Nguyễn Hoài P không có lời khai trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm: Việc Tòa án nhân dân quận Thanh Khê thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền; việc tuân theo pháp luật tố tụng đã xác định Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng trong quá trình tham gia giải quyết vụ án tại Tòa án. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn vẫn vắng mặt lần hai đã không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn của bà N. Tài sản chung và nợ chung không có N không đề cập giải quyết. Án phí HNGĐ-ST bà Nguyễn Thị N phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và quan điểm giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

*Về thủ tục tố tụng:

[1] Đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc "Ly hôn" quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng theo Khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Toà án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai đối với bị đơn ông Nguyễn Hoài P nhưng ông P vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Hoài P đã tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 06 tháng 10 năm 2005 tại Ủy ban nhan dân phường Tân Chính, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông P là hợp pháp N được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bà N xác định tình cảm vợ chồng không còn và xin ly hôn với ông P. Bà N cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, cách suy nghĩ N vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến đến cuộc sống không hạnh phúc.

Hội đồng xét xử xét yêu cầu của các đương sự thì thấy: Mối quan hệ hôn nhân chỉ thực sự tồn tại khi cả hai vợ chồng cùng yêu thương, cùng nhau xây đắp gia đình, cïng nhau cã tr¸ch nhiÖm, ch¨m sãc còng nh− t¹o mäi ®iÒu kiÖn cho nhau trong cuéc sèng. Trong quá trình chung sống, bà N và ông P phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không sống cùng nhau, không có sự quan tâm cần thiết, ông P không có hướng phấn đấu tốt để vợ chồng có thể hòa hợp. Hiện tại cả hai ông bà không còn chung sống với nhau và phần ai nấy sống, không ai có trách nhiệm với ai trong cuộc sống. Xét thấy việc mâu thuẫn tồn tại trong đời sống vợ chồng của các đương sự là có thật, phù hợp với xác minh tại địa P cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn kiên quyết yêu cầu Tòa án cho ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị N xác định trong quá trình chung sống sinh được 02 con chung Nguyễn Hoài Bảo T, sinh ngày 18/12/2010 và Nguyễn Hoài N, sinh ngày 26/12/2005.

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa hôm nay, bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên Nguyễn Hoài Nam, sinh ngày 26/12/2005 và ông P sẽ trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung chưa thành niên Nguyễn Hoài Bảo Trân, sinh ngày 18/12/2010; không bên nào cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.

Xét yêu cầu nuôi con chung của bà N thì thấy: Cha, mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con cái. Song việc giao con cho ai nuôi cần xem xét mọi mặt và quyền lợi của con để không ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của con. Hiện nay, bà N và ông P là người đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung, đang chăm sóc dạy dỗ chu đáo và cháu đang ở độ tuổi rất cần sự yêu thương của người cha, người mẹ N nghĩ giao con chung Nguyễn Hoài Nam cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Hoài Bảo Trân cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng trông nom và giáo dục cũng đúng với nguyện vọng của các con; không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nào là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà N xác định không có tài sản chung và nợ chung N Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Trường hợp sau này có tranh chấp thì khởi kiện bằng vụ án dân sự khác để giải quyết.

Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nguyên đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N đối với ông Nguyễn Hoài P về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn ".

Tuyên xử:

1. Cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn ông Nguyễn Hoài P.

- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoài N, sinh ngày 26/12/2005 cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Hoài Bảo T, sinh ngày 18/12/2010 cho ông Nguyễn Hoài P trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.

Các đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị N xác định không có N Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị N phải chịu được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 0001907 ngày 06 tháng 5 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Bà N đã nộp đủ tiền án phí.

3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/9/2020). Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ