vanban.org

Bản án 50/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân"
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 206 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN DƯƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 10-8-2020
V/v tranh chấp yêu cầu không
công nhận là vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Minh Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Thu Thủy

Bà Đồng Thị Thường

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải

Phòng tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thơ - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2020, tại Trụ sở, Tòa án nhân dân huyện An Dương

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 224/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2020 về việc: "Tranh chấp yêu cầu không công nhận là vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V; Nơi cư trú: Thôn K, xã H1, huyện A,

thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc H; Nơi cư trú: Thôn K, xã H1, huyện A, thành

phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện, tại Bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị V trình

bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Ngọc H chung sống với nhau như

vợ chồng trên cơ sở hai bên tự nguyện từ năm 1992, có được hai bên gia đình tổ chức cưới, hỏi theo phong tục truyền thống ở địa phương. Chị và anh H không đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi cưới, chị và anh H về chung sống tại thôn K, xã H1, huyện A, thành phố Hải Phòng.

Quá trình chung sống, thời gian đầu chị và anh H chung sống rất hòa thuận,

hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra cãi chửi nhau. Từ năm 2019 đến nay, chị và anh H sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận chị và anh H là vợ chồng để chị ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị và anh H có 01 con chung là Nguyễn Ngọc V, sinh năm

1993. Con chung đã trưởng thành, tự quyết định được cuộc sống nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai, bị đơn anh Nguyễn Ngọc H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh xác định thời gian chung sống, việc không đăng

ký kết hôn, quá trình chung sống và mâu thuẫn của anh và chị V theo như chị V đã khai là đúng. Hiện tại anh và chị V sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay chị V đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận chị V và anh là vợ chồng, anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị V có 01 con chung theo như chị V đã khai là

đúng. Con chung đã trưởng thành nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng

tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, những người

tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã chấp hành đúng các quy

định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự; các điều 9,14 Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân, xử: Không công nhận chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Ngọc H là vợ chồng; Về con chung: Con chung Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1993 đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết; Chị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn

Thị V có đơn khởi kiện đối với anh Nguyễn Ngọc H về việc đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận chị V và anh H là vợ chồng. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh H hiện đang cư trú tại thôn K, xã H1, huyện A, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Ngọc H vắng mặt có

quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện An Dương tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Ngọc H.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của các đương sự, căn cứ các tài

liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ cơ sở xác định: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Ngọc H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1992. Chị V và anh H không đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vì vậy, mặc dù chị V và anh H đã có thời gian dài chung sống và đã có một con chung nhưng căn cứ Điều 9 và Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì về mặt pháp lý không xác định chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Ngọc H là vợ chồng. Vì vậy, chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Ngọc H đều có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận chị V và anh H là vợ chồng là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Ngọc H có một con

chung là Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1993. Con chung Nguyễn Ngọc V đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Ngọc H không yêu

cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không giải quyết, khi nào các đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.

Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị V là nguyên đơn phải chịu án phí ly

hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Ngọc H được

quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 8, Điều 28; Điều 147; Điều 206; khoản 1, Điều 228 Bộ luật

Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ các điều 9,14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 6; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị V và anh

Nguyễn Ngọc H là vợ chồng.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ

thẩm để sung công quỹ Nhà nước. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn chị V đã nộp theo Biên lai thu tiền số 12679 ngày 09 tháng 7 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương. Chị Nguyễn Thị V đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ