vanban.org

Bản án 50/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị X được ly hôn anh Hoàng Văn T.

Về con chung: Giao cho chị Trần Thị X trực tiếp nuôi dưỡng cả bốn con chung là Hoàng Thị Bích H1, sinh ngày 26/9/2006, cháu Hoàng Sơn H2, sinh ngày 29/10/2008, Hoàng Minh D, sinh ngày 10/11/2016 và cháu Hoàng Minh H3, sinh ngày 22/9/2018. Chị X không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Các đương… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị X xin ly hôn anh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị X được ly hôn anh Hoàng Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁI THỤY
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2020/HNGĐ-ST
Ngày 26-8-2020
V/v: Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con
chung Xuyền - Trai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Xuân Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và ông Phan Văn Tiến

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Nhật Khánh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Giang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 104/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2020 về việc xin ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 27A/2020/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị X, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn S, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng.

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện T, tỉnh Thái Bình.

( Chị X có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt lần 2 không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/02/2020, bản tự khai, các đơn đề nghị và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị X trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 06/12/2016. Sau khi kết hôn chị X và anh T cùng chung sống tại xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Theo chị X thì nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, anh chị đã ly hôn vào năm 2012 nhưng đến năm 2016 anh chị lại đăng ký kết hôn lại để cho nhau cơ hội đoàn tụ, nhưng mâu thuẫn trở lên trầm trọng từ đầu năm 2017 dẫn đến vợ chồng sống ly thân, chị X đã dẫn các con về làm ăn và sinh sống tại huyện T, thành phố Hải Phòng, còn anh T vẫn làm ăn sinh sống tại địa phương. Từ lúc ly thân đến nay vợ chồng không quan tâm, liên lạc với nhau. Đến nay, chị X xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, chị X làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị và anh T có ốn con chung là các cháu Hoàng Thị Bích H1, sinh ngày 26/9/2006, cháu Hoàng Sơn H2, sinh ngày 29/10/2008, Hoàng Minh D, sinh ngày 10/11/2016 và cháu Hoàng Minh H3, sinh ngày 22/9/2018. Các cháu Hoàng Thị Bích H1, Hoàng Sơn H2, Hoàng Minh D và Hoàng Minh H3 từ nhỏ đến nay đang ở cùng với chị, ly hôn chị có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cả bốn con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị X trình bày anh chị không có nợ chung và chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Hoàng Văn T nhiều lần, tuy nhiên anh T không đến Tòa án làm việc. Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy đã tiến hành tống đạt trực tiếp và hợp lệ theo quy định của pháp luật các văn bản tố tụng cho anh Trai ở gia đình tại thôn Đ, xã X, huyện T, tỉnh Thái Bình, anh T đã iết được nội dung của những văn ản của Tòa án tuy nhiên từ chối không nhận văn ản, không ký xác nhận vào các văn ản của Tòa án. Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy đã tiến hành niêm yết các văn ản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Tại biên bản xác minh ngày 22/6/2020, Ủy ban nhân dân xã X, huyện T cùng đại diện cơ sở thôn cung cấp như sau:

Theo quản lý nhân khẩu tại địa phương thì chị X và anh T có tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 103 ngày 06/12/2006. Sau khi kết hôn, chị X và anh T chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn, đến khoảng đầu năm 2017 thì chị X cùng các con đã chuyển đi nơi khác sinh sống còn anh Trai thì vẫn ở tại địa phương. Gần đây anh T có đi lái tàu du lịch tại Cát Bà, thành phố Hải Phòng, tuy nhiên anh T vẫn thường xuyên về nhà ở X vào những ngày không có khách đi tàu. Theo thông tin địa phương được biết trước đây vợ chồng anh chị có xảy ra tình trạng cãi nhau và đã ly hôn vào khoảng tháng 10/2012, sau đó anh chị lại về chung sống với nhau, anh T có đến Ủy ban nhân dân xã X xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và anh chị đã đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng vào cuối năm 2016, sau đó hai vợ chồng cùng các con về thôn Đ, xã X để làm ăn và sinh sống thì phát sinh mâu thuẫn. Cơ sở thôn đã hòa giải để hàn gắn hôn nhân nhưng chị X vẫn kiên quyết bỏ đi và anh chị đã sống ly thân từ khoảng đầu năm 2017 đến nay. Quan điểm của Ủy ban nhân dân xã X về việc chị X xin ly hôn anh T là đề nghị Tòa án hòa giải để hai vợ chồng đoàn tụ, còn trong trường hợp mâu thuẫn đã quá trầm trọng vì các ên đương sự đã sống ly thân quá lâu và chị X kiên quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Vợ chồng chị X và anh T có ốn con chung là các cháu Hoàng Thị Bích H1, sinh ngày 26/9/2006, cháu Hoàng Sơn H2, sinh ngày 29/10/2008, Hoàng Minh D, sinh ngày 10/11/2016 và cháu Hoàng Minh H3, sinh ngày 22/9/2018. Các cháu Hoàng Thị Bích H1, Hoàng Sơn H2, Hoàng Minh D và Hoàng Minh H3 hiện nay đang ở cùng với chị X. Địa phương đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật và nguyện vọng của các cháu để giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Hiện nay không có thông tin phản ánh tại địa phương về việc chị X và anh T có vay nợ tổ chức, cá nhân nào.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh T mặc dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ, biết việc chị X xin ly hôn anh; được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn ản của Tòa án nhưng anh không trình bày ý kiến, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án là chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố dụng dân sự.Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình xử cho chị Trần Thị X được ly hôn anh Hoàng Văn T; Về quan hệ con chung: Các cháu Hoàng Thị Bích H1, Hoàng Sơn H2, Hoàng Minh D và Hoàng Minh H3 hiện nay đang ở cùng với chị X đề nghị giao các cháu cho chị X trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, chấp nhận việc chị X không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật; Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị X không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra giải quyết. Chị X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa cà căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thẩm quyền: Bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã X, huyện T, tỉnh Thái Bình, hiện nay anh T vẫn sinh sống tại địa phương, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn không thay đổi nơi cư trú vì vậy đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị X có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Hoàng Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các ên đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị X và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 103 ngày 06/12/2016. Tại thời điểm kết hôn, anh chị đủ điều kiện kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị X trình bày là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, xung đột. Mâu thuẫn trở nên trầm trọng vào đầu năm 2017, chị X cùng các con đã chuyển ra huyện T, thành phố Hải Phòng làm ăn sinh sống, từ đó đến nay anh chị không hỏi han nhau cũng không có biện pháp gì để hàn gắn quan hệ hôn nhân. Hiện nay, cả hai đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Tại các văn ản gửi đến Tòa án và trong quá trình làm việc tại Tòa án, chị X trình bày không muốn đoàn tụ vì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, anh T trốn tránh không đến Tòa án làm việc để gây khó khăn cho chị và chị kiên quyết xin được ly hôn anh T. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành gửi các văn ản tố tụng theo đúng quy định pháp luật cho anh T, anh T đã iết được việc chị X xin ly hôn anh nhưng anh không đưa ra quan điểm, nguyện vọng giải quyết hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị X, từ chối nhận các văn ản của Tòa án, không đến Tòa án làm việc để trình ày quan điểm cũng như tìm các iện pháp để hòa giải vợ chồng thể hiện việc anh T không tha thiết với việc hàn gắn tình cảm gia đình. Qua xác minh tại địa phương nơi chị X và anh T đã kết hôn rồi ly hôn, sau đó kết hôn lại và cùng sinh sống trước khi ly thân. Rõ ràng rằng, mâu thuẫn vợ chồng giữa hai bên là có thật, có tình trạng vợ chồng đánh cãi nhau và ly thân từ năm 2017. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị X và anh T đã ở mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị X để vợ chồng đoàn tụ cũng không thành và sẽ làm cho mâu thuẫn thêm trầm trọng, chị X cương quyết xin ly hôn, cần xử cho chị X được ly hôn anh T là phù hợp với thực tế và quy định tại khoản 1 điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

Về quan hệ con chung: Chị X và anh T có ốn con chung là Hoàng Thị Bích H1, sinh ngày 26/9/2006, cháu Hoàng Sơn H2, sinh ngày 29/10/2008, Hoàng Minh D, sinh ngày 10/11/2016 và cháu Hoàng Minh H3, sinh ngày 22/9/2018. Hiện các cháu Hoàng Thị Bích H1, Hoàng Sơn H2, Hoàng Minh D và Hoàng Minh H3 đang ở cùng với chị X. Ly hôn chị X có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cả bốn con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Do anh T không thể hiện quan điểm về việc nuôi con chung , xét nguyện vọng của cháu H1 và cháu H2 muốn được ở với mẹ cũng như để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển mọi mặt của cả bốn cháu do từ trước đến nay các cháu vẫn được chị X chăm sóc, nuôi dưỡng và đang phát triển ình thường, khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần, căn cứ vào các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia T, Hội đồng xét xử cần xử giao cả bốn con chung cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng và chấp nhận việc chị X không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi các đương sự có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị X không yêu cầu giải quyết về tài sản, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về quan hệ tài sản.

Về án phí: Chị X phải chịu toàn ộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quyền kháng cáo: Chị X và anh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tại điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị X được ly hôn anh Hoàng Văn T.

2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị X trực tiếp nuôi dưỡng cả bốn con chung là Hoàng Thị Bích H1, sinh ngày 26/9/2006, cháu Hoàng Sơn H2, sinh ngày 29/10/2008, Hoàng Minh D, sinh ngày 10/11/2016 và cháu Hoàng Minh H3, sinh ngày 22/9/2018. Chị X không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở, có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng cho con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trần Thị X phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000đ chị X đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002200 ngày 11/5/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy sang thi hành án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ