vanban.org

Bản án 50/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 02/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Th và bị cáo Phùng Trọng T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Phùng Trọng T 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã HX, huyện TT, tỉnh PT nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo T cho UBND xã HX, huyện TT, tỉnh PT giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không gia… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Th, Phùng Trọng T tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Th và bị cáo Phùng Trọng T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TT
TỈNH PT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2019/HSST
Ngày: 02-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT, TỈNH PT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Lâm

Ông Đỗ Minh Thân

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Anh Xuân Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện TT, tỉnh PT.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, tỉnh PT tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Nhân Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 10 năm 2019. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh PT xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2019/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 9 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị Th, sinh năm 1962 tại huyện TT, tỉnh PT; Nơi cư trú: Khu 8, xã HX, huyện TT, tỉnh PT; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 3/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc A (đã chết) và bà Đặng Thị B, SN 1939; Có chồng: Nguyễn Tiến Z, SN 1960 và 02 con (lớn SN 1981, nhỏ SN 1984); Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 24/6/2019 đến ngày 26/6/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Bị cáo tại ngoại. (có mặt);

2. Phùng Trọng T, sinh năm 1990 tại huyện TT, tỉnh PT; Nơi cư trú: Khu 3, xã HX, huyện TT, tỉnh PT; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng Văn X (đã chết) và bà Đặng Thị Y, SN 1959; Có vợ: Hà Thị Q, SN 1994 và 02 con (lớn SN 2012, nhỏ SN 2015); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. (có mặt);

- Người bào chữa cho bị cáo Thịnh: Bà Bùi Thị Thanh N - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh PT. (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Phùng Thị Th1, sinh năm 1966 Địa chỉ: Khu 7, xã HX, huyện TT, tỉnh PT. (vắng mặt).

+ Bà Phạm Thị H, sinh năm 1977 Địa chỉ: Khu 6, xã HX, huyện TT, tỉnh PT. (vắng mặt).

+ Ông Nguyễn Mạnh T1, sinh năm 1954 Địa chỉ: Khu 6, xã HX, huyện TT, tỉnh PT. (vắng mặt).

+ Anh Đoàn Mạnh D, sinh năm 2004 Địa chỉ: Khu 6, xã Đồng Luận, huyện TT, tỉnh PT. (vắng mặt).

+ Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1990 Địa chỉ: Khu 12, xã HX, huyện TT, tỉnh PT. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Th không được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoạt động dịch vụ ghi xổ số, lô tô Nhà nước. Nhưng do muốn kiếm thêm thu nhập nên Th đã trực tiếp đứng ra bán các số lô, số đề cho khách và căn cứ vào kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc trong ngày để xác định thắng thua rồi tự đứng ra trả thưởng cho người mua. Về cách thức đánh bạc, Th và những người mua số lô, số đề của Th thỏa thuận như sau: Số tiền thắng thua sẽ được Th và những người mua thanh toán vào ngày hôm sau, sau khi đã có kết quả mở thưởng xổ số miền Bắc của ngày hôm trước. Về số đề, người chơi có thể mua của Th một hoặc nhiều số có 2 chữ số từ 00 đến 99 với số tiền tùy ý cho mỗi số. Các số này sau đó sẽ được đem ra so sánh với 2 chữ số cuối của giải đặc biệt kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc trong ngày hôm đó. Nếu số đề người chơi đã mua trùng với 2 chữ số cuối của giải đặc biệt thì người mua sẽ là người thắng cuộc và Th phải trả cho người mua số tiền gấp 70 lần số tiền người mua đã bỏ ra để mua số đề đã trúng thưởng. Và ngược lại, nếu số đề người chơi đã mua không trùng với 2 chữ số cuối của giải đặc biệt thì người mua là người thua cuộc và mất hết số tiền đã bỏ ra mua số đề đó cho Th. Trong số đề có quy ước bóng: 0 bóng 5; 1 bóng 6; 2 bóng 7; 3 bóng 8; 4 bóng 9. Ngoài cách chọn từng số riêng lẻ để mua, người chơi có thể mua các số theo bộ: Dây, tổng, đầu, đuôi, kép, vương. Dây là 1 bộ gồm 08 số trong các cặp bóng. Ví dụ: Dây 01 bao gồm 08 số trong bộ 0 bóng 5, 1 bóng 6 là 01; 10; 06; 60; 15; 51; 56; 65. Bộ tổng gồm các số khi cộng hai chữ số của số đó lại ra số tổng người chơi đã chọn hoặc chữ số cuối của tổng hai chữ số là số tổng người chơi đã chọn. Ví dụ: Tổng 1 gồm các số: 01; 10; 29; 92; 38; 83; 47; 74; 56; 65. Bộ đầu bao gồm tất cả các số có chữ số đầu trùng với số người chơi đã chọn. Ví dụ: Đầu 0 gồm các số: 00; 01; 02; 03... đến 09. Bộ đuôi gồm tất cả các số đề có chữ số thứ 2 trùng với số đuôi người chơi đã chọn. Ví dụ: Đuôi 9 gồm các số: 09; 19; 29...99. Kép gồm có kép lệch và kép bằng, kép bằng gồm 10 số có hai chữ số giống nhau từ 00 đến 99, kép lệch gồm số có hai chữ số là bóng của nhau, ví dụ: 05; 50; 16; 61....Bộ vương gồm có vương thiếu (vương một số - người chơi chỉ được chọn một chữ số) và vương đủ (vương hai số - người chơi được chọn hai chữ số). Vương thiếu (vương một số) là bộ 19 số có hai chữ số trong đó ở mỗi số có số đầu hoặc số cuối trùng với chữ số người chơi đã chọn. Ví dụ: Vương 1 gồm các số: 01, 11, 21...91 và 10, 12, 13...19. Vương đủ (vương hai số) là bộ 36 số có hai chữ số trong đó ở mỗi số có số đầu hoặc số cuối trùng với một trong hai số người chơi đã chọn. Ví dụ: Vương 01 gồm các số: Vương 1 và vương 0. Đối với số lô, cũng giống như số đề, người chơi có thể mua một hoặc nhiều số có 2 chữ số từ 00 đến 99 nhưng mỗi số sẽ mua theo điểm và người chơi có thể mua không giới hạn điểm cho mỗi số. Mỗi điểm lô được quy đổi ra số tiền tương ứng với 23.000đ. Các con số này sau đó được đem ra so sánh với 2 chữ số cuối của tất cả 27 giải được Công ty xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày. Nếu số lô người chơi đã mua trùng với 2 chữ số cuối của một trong 27 giải của kết quả mở thưởng xổ số thì người đó là người thắng cuộc và Th phải trả cho người đó số tiền tương ứng với số điểm người đó đã bỏ ra mua số lô đã trúng thưởng là 80.000 đồng/1 điểm. Ngược lại, nếu số lô người chơi đã mua không trùng với 2 chữ số cuối của bất kì giải nào trong 27 giải của kết quả xổ số thì người mua là người thua cuộc và mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra mua số lô đó cho Th.

Khoảng 17 giờ ngày 24/6/2019, khi Nguyễn Thị Th đang ở nhà của mình ở khu 8, xã HX, huyện Thanh Thủy, tỉnh PT thì Phạm Thị H - sinh năm 1977, ở khu 6, xã HX, huyện Thanh Thủy, tỉnh PT đến gặp Th hỏi mua các số đề của Th thì Th đồng ý. Sau đó, Hệ đưa cho Th 01 mảnh giấy màu trắng có ghi sẵn các số lô, số đề cùng số tiền mua tương ứng mà Hệ muốn mua (“Cáp đề” được đánh số thứ tự 03) gồm: Các số đề kép bằng = 100.000đ, các số đề kép lệch = 100.000đ, các số đề kép 49 = 80.000đ, các số đề kép 05 = 80.000đ, số đề 01 = 20.000đ, số đề 10 = 20.000đ, số đề 44 = 30.000đ, số đề 66 = 20.000đ, số đề 32 = 10.000đ, số đề 00 = 20.000đ, số đề 20 = 140.000đ, số đề 02 = 25.000đ, các số đề 12, 21, 15, 51, 05, 50, 23 mỗi số 50.000đ. Tổng số tiền Hệ mua các số đề của Th là 995.000đ, sau khi Th trừ tiền hoa hồng cho Hệ thì Hệ trả cho Th số tiền 796.000đ, sau đó Hệ để lại cáp đề mình chuẩn bị sẵn lại cho Th để Th theo dõi, còn Hệ đi về nhà.

Đến khoảng 17 giờ 20 phút thì có Nguyễn Mạnh T1 – sinh năm 1954, ở khu 6, xã HX, huyện Thanh Thủy, tỉnh PT đến mua số đề của Th. Tưởng đưa cho Th 01 mảnh giấy màu trắng có ghi sẵn các số lô, số đề cùng số tiền mua tương ứng mà Tưởng muốn mua (“Cáp đề” được đánh số thư tự 02) gồm: các số đề chẵn, lẻ = 250.000đ, các số đề thuộc bộ vương 05 = 360.000đ, các số đề dây 02 = 80.000đ, các số đề dây 13 = 40.000đ, các số đề kép 16 = 120.000đ, các số đề dây 04 = 40.000đ, các số đề tổng 289 = 150.000đ, các số đề kép 2 = 300.000đ, các số đề dây 03 = 160.000đ, các số đề 14, 41 mỗi số 20.000đ, các số đề 17, 71, 78, 87, 58, 85 mỗi số 5.000đ, các số đề 45, 54, 44, 99 mỗi số 10.000đ, số đề 05 = 70.000đ, các số đề 25, 65 mỗi số 20.000đ, số đề 85 = 5.000đ, các số đề 08, 28, 48, 68, 88 mỗi số 20.000đ, các số đề 00, 01, 05 mỗi số 30.000đ, số đề 03 = 35.000đ, các số đề 07, 70, 25, 05, 85, 50 mỗi số 20.000đ. Tổng số tiền Tưởng mua số đề của Th thể hiện trên cáp đề là 2.634.000đ. Tưởng đã trả cho Th 1.474.000đ, còn nợ lại 1.160.000đ.

Đến khoảng 17 giờ 30 phút, khi Th đang tổng hợp các số lô, số đề của Hệ và Tưởng mua vào 01 tờ giấy kẻ ngang màu trắng (Gọi là “bảng đề”, được đánh số thứ tự 01) thì Phùng Thị Thúy – Sinh năm 1966, ở khu 7, xã HX, huyện Thanh Thủy, tỉnh PT đến gặp Th hỏi mua các số lô, số đề của Th thì Th đồng ý. Sau đó, Thúy lấy ra 01 mảnh giấy ghi các số đề cùng với số tiền mua tương ứng mà Thúy đã chuẩn bị từ trước (“Cáp đề” được đánh số thứ tự 05) rồi đọc cho Th ghi lại vào "bảng đề" của Th gồm: Các số đề đầu 9 = 100.000đ, các số đề kép 05 = 40.000đ, các số đề kép 49 = 40.000đ, các số đề thuộc dây 82 = 80.000đ, các số đề kép 27 = 40.000đ, các số đề kép 16 = 40.000đ, các số đề kép 38 = 100.000đ, số đề 58 = 20.000đ, số đề 21 = 20.000đ. Tổng số tiền Thúy mua số đề của Th thể hiện trên cáp đề là 480.000đ, Th trừ cho Thúy 80.000đ tiền hòa hồng và Thúy đã trả cho Th số tiền 400.000đ rồi Thúy đi ra phòng khách ngồi uống nước. Sau đó thì có Đoàn Mạnh D – Sinh năm 2004, ở khu 6, xã Đồng Luận, huyện Thanh Thủy, tỉnh PT đến gặp Th để mua các số lô, số đề. Sau đó Dương lấy ra 01 mảnh giấy có ghi các số lô, số đề cùng với số tiền mua tương ứng do Dương chuẩn bị từ trước (Cáp đề được đánh số 02) rồi đọc cho Th ghi lại vào "bảng đề" của Th gồm: Các số lô 17, 71, 14, 41 mỗi số 50 điểm, các số đề 19, 91, 29, 92 mỗi số 50.000đ. Tổng số tiền Dương mua các số lô, số đề của Th là 4.800.000đ, Dương đã trả số tiền trên cho Th và được Th trả lại 40.000đ tiền hoa hồng. Khi Dương vừa nhận lại tiền hoa hồng từ Th thì hành vi của Th bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang.

Tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu xám lắp sim số 0339.106.276 thu giữ của Phùng Thị Thúy, Cơ quan Công an phát hiện tại phần tin nhắn của ứng dụng Zalo cài đặt trên điện thoại có 01 tin nhắn hình ảnh gửi đến tài khoản Zalo có tên "Bắt Gà Vịt" có nội dung liên quan đến việc mua bán số lô, số đề. Phùng Thị Thúy khai nhận ngày 24/6/2019, ngoài lần mua số đề của Th thì Thúy còn mua các số lô, số đề của Phùng Trọng T – sinh năm 1990, ở khu 3, xã HX, huyện Thanh Thủy, tỉnh PT bằng cách ghi các số lô, số đề cùng số tiền tương ứng vào 01 mảnh giấy (Cáp đề được đánh số 06) rồi dùng chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu xám lắp sim số 0339.106.276 chụp ảnh cáp đề trên, sau đó dùng tài khoản Zalo "Phùng Th1” của Thúy gửi đến tài khoản Zalo "Bắt Gà Vịt" của T để mua các số lô, số đề của Tuấn. Căn cứ lời khai của Phùng Thị Thúy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Thủy đã triệu tập Phùng Trọng T để làm rõ nội dung trên. Tại Cơ quan điều tra, Phùng Trọng T đã giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 5S màu trắng-bạc lắp sim số 0342.568.510, T khai đó là chiếc điện thoại T dùng đăng nhập vào ứng dụng Zalo để thực hiện hành vi đánh bạc của mình. Tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại Iphone 5S màu trắng-bạc lắp sim số 0342.568.510 của Tuấn, Cơ quan Công an phát hiện tại mục tin nhắn trong ứng dụng Zalo có nhiều tin nhắn từ tài khoản Zalo "Phùng Th1” , "Gà Con" và "Mã Đáo Thành Công" đến tài khoản Zalo "Bắt Gà Vịt" của T với nội dung liên quan đến việc mua bán số lô, số đề. T khai nhận chiều ngày 24/6/2019, T đã có hành vi sử dụng mạng xã hội Zalo để bán số lô, số đề cho một số đối tượng gồm: Phùng Thị Thúy – Sinh năm 1966, ở Khu 7, xã HX, huyện Thanh Thủy, tỉnh PT có tài khoản Zalo là "Phùng Th1” , Đặng Minh Trường – Sinh năm 1989, ở khu 8, xã HX, huyện Thanh Thủy, tỉnh PT có tài khoản Zalo là "Mã Đáo Thành Công" và Nguyễn Văn C – sinh năm 1990, ở khu 12, xã HX, huyện Thanh Thủy, tỉnh PT có tài khoản Zalo "Gà con". Khám xét nơi ở của Phùng Trọng T, Cơ quan điều tra không phát hiện, thu giữ đồ vật tài liệu gì.

Căn cứ lời khai của Phùng Trọng T, Cơ quan điều tra đã triệu tập Đặng Minh Trường, Nguyễn Văn C và làm rõ hành vi của mua bán số lô, số đề của các đối tượng như sau:

Phùng Trọng T không được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoạt động dịch vụ ghi xổ số, lô tô Nhà nước. Tuy nhiên do muốn kiếm thêm thu nhập nên chiều ngày 24/6/2019, T sử dụng mạng xã hội Zalo để bán số lô, số đề cho một số đối tượng là người quen của T rồi tự đứng ra trả thưởng cho họ. Do có quen biết từ trước, nên T và các đối tượng thỏa thuận khi các đối tượng muốn mua số lô, số đề thì dùng tài khoản Zalo của mình nhắn tin đến tài khoản Zalo "Bắt Gà Vịt" của Tuấn. Nếu mục tin nhắn Zalo hiển thị "đã xem" tức là T đã đồng ý bán các số lô, số đề cho người đó. Việc thanh toán tiền sẽ được thực hiện khi có kết quả mở thưởng vào ngày hôm sau. Về cách thức đánh bạc, cũng tương tự như cách thức mà Th và những người chơi khác quy ước.

Bằng phương thức như trên vào hồi 17 giờ 03 phút ngày 24/6/2019, Phùng Thị Thúy đã gửi 01 tin nhắn hình ảnh chụp 01 mảnh giấy có ghi các số lô, số đề cùng số tiền tương ứng mà Thúy muốn mua (“Cáp đề” được đánh số thứ tự 06) rồi gửi từ tài khoản Zalo "Phùng Th1” đến tài khoản Zalo "Bắt Gà Vịt" của T với nội dung mua các số đề 03, 30, 08, 58, 85, 53, 35, 01, 65, 56, 15, 51, 62, 00, 05, 12, 21, 17, 71, 67, 76, 18, 81, 36, 63, 31, 68, 86, 23, 32, 78, 87, 19, 91, 14, 41, 69, 96, 09, 02, 74, 47, 38, 83, 33, 88 mỗi số 30.000đ. Các số lô 14, 41, 24, 42, 37, 73, 47, 74 mỗi số 10 điểm. Các số đề dây 02 = 180.000đ, dây 12 = 180.000đ, các số đề kép bằng = 200.000đ, các số đề kép lệch = 200.000đ. Tổng số tiền Thúy mua số lô, số đề của T là 3.980.000đ.

Đến 17 giờ 29 phút cùng ngày, Nguyễn Văn C gửi 01 tin nhắn Zalo từ tài khoản "Gà con" của Chung đến tài khoản Zalo "Bắt Gà Vịt" của T với nội dung mua các số đề 01, 02, 03, 05, 08, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 26, 28, 29, 30, 32, 33, 34, 35, 37, 38, 39, 40, 41, 43, 44, 45, 48, 50, 51, 54, 55, 56, 58, 59, 60, 62, 65, 67, 69, 70, 71, 74, 75, 79, 82, 84, 86, 88, 89, 90, 91, 93, 94, 98 mỗi số 50.000đ. Tổng số tiền Chung mua số đề của T là 3.200.000đ.

Đến 17 giờ 33 phút cùng ngày, Đặng Minh Trường gửi 01 tin nhắn Zalo từ tài khoản "Mã Đáo Thành Công" của Trường đến tài khoản Zalo "Bắt Gà Vịt" của T với nội dung mua các số đề 93, 07 mỗi số 1.000.000đ. Tổng số tiền Trường mua các số đề của T là 2.000.000đ.

Tất cả tin nhắn trên, T đều đã xem và lưu lại tại mục tin nhắn của ứng dụng Zalo để làm căn cứ xác định thắng thua.

Về số tiền Nguyễn Thị Th và Phùng Trọng T sử dụng vào mục đích đánh bạc trong ngày 24/6/2019 được xác định như sau: Hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị Th và Phùng Trọng T được phát hiện khi chưa có kết quả mở thưởng xổ số kiến triết Miền bắc trong ngày nên số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc được xác định là tổng số tiền các đối tượng đã bán số lô, số đề cho nhứng người mua vào ngày 24/6/2019, trong đó: Số tiền Nguyễn Thị Th đánh bạc là tổng số tiền Th đã bán số lô, số đề cho Phạm Thị H (995.000đ), Nguyễn Mạnh T1 (3.634.000đ), Nguyễn Thị Thúy (480.000đ) và Đoàn Mạnh D (3.800.000đ), tổng là 8.909.000đ; Số tiền Phùng Trọng T, đánh bạc là tổng số tiền T đã bán số lô, số đề cho Phùng Thị Thúy (3.980.000đ), Nguyễn Văn C (3.200.000đ) và Đặng Minh Trường (2.000.000đ), tổng là 9.180.000đ.

* Tại Bản cáo trạng số 51/CT-VKSTT ngày 13 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh PT truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Th và Phùng Trọng T về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phùng Trọng T; Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, p khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Th:

Xử phạt bị cáo Phùng Trọng T từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Th từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 03 ngày tạm giữ, quy đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ;

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 18.089.000đồng.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 5S màu trắng – bạc, đã qua sử dụng, số Imei 352001066752454 của bị cáo Phùng Trọng T;

Tịch thu tiêu huỷ: 01 sim số 0342.568.510 lắp bên trong điện thoại di động Iphone 5S màu trắng – bạc của bị cáo Tuấn; 01 bàn gấp học sinh, 02 cây bút bi (một cây mực xanh. một cây mực đỏ) của bị cáo Th.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Th: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng, lắp sim số 0338.142.456;

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Th phát biểu quan điểm: Nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về tố tụng:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Kiểm sát viên, bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt họ. Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là phù hợp quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2. Về nội dung vụ án:

Tại phiên toà cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Th và Phùng Trọng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai. Lời khai nhận của các bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai nhận tại phiên tòa đều thống nhất với nhau, phù hợp với nội dung vụ án và phù hợp với vật chứng thu giữ. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định:

Trong khoảng thời gian từ 17 giờ đến 17 giờ 30 phút, ngày 24/6/2019, tại nhà ở của mình khu 8 xã HX, huyện Thanh Thủy, tỉnh PT, bị cáo Nguyễn Thị Th đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số lô, số đề cho các đối tượng rồi tự đứng ra trả thưởng cho họ, cụ thể như sau: Bán cho Phạm Thị H các số đề với tổng số tiền là 995.000đồng, Nguyễn Mạnh T1 các số đề với tổng số tiền là 2.634.000đồng, Phùng Thị Th1 các số đề với tổng số tiền là 480.000đồng và Đoàn Mạnh D các số lô, đề với tổng số tiền là 4.800.000đồng;

Cũng vào khoảng thời gian như trên, ngày 24/6/2019, bị cáo Phùng Trọng T đã sử dụng mạng xã hội Zalo để đánh bạc bằng hình thức bán số lô, đề cho các đối tượng rồi tự đứng ra trả thưởng cho họ, cụ thể như sau: Vào hồi 17 giờ 03 phút ngày 24/6/2019, Phùng Thị Thúy đã gửi 01 tin nhắn hình ảnh chụp 01 mảnh giấy có ghi các số lô, số đề cùng số tiền tương ứng mà Thúy muốn mua rồi gửi từ tài khoản Zalo "Phùng Th1” đến tài khoản Zalo "Bắt Gà Vịt" của T để mua các số lô, đề với tổng số tiền 3.980.000đồng. Đến 17 giờ 29 phút cùng ngày, Nguyễn Văn C gửi 01 tin nhắn Zalo từ tài khoản "Gà con" của Chung đến tài khoản Zalo "Bắt Gà Vịt" của T để mua các số đề với tổng số tiền là 3.200.000đồng; Đến 17 giờ 33 phút cùng ngày, Đặng Minh Trường gửi 01 tin nhắn Zalo từ tài khoản "Mã Đáo Thành Công" của Trường đến tài khoản Zalo "Bắt Gà Vịt" của T đề mua các số đề với tổng số tiền là 2.000.000đồng. Tất cả tin nhắn trên, T đều đã xem và lưu lại tại mục tin nhắn của ứng dụng Zalo để làm căn cứ xác định thắng thua.

Hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị Th và Phùng Trọng T được phát hiện khi chưa có kết quả mở thưởng xổ số kiến triết Miền bắc trong ngày nên xác định số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc bằng hình thức bán số lô, đề cho các đối tượng trong ngày 24/6/2019. Trong đó: Bị cáo Th là 8.909.000đồng; Bị cáo T là 9.180.000đồng.

Hành vi của bị cáo Th và T đã phạm tội Đánh bạc, được quy định tại Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất cứ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh PT truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng. Tuy nhiên hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến trật tự công cộng, trật tự trị an xã hội, là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ mà mọi hành vi xâm phạm đều bị xử lý. Do vậy cần phải xét xử nghiêm đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa chung.

Xét nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa đều đã thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải. Bị cáo Th là là người bị khuyết tật nặng, được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng của Nhà nước. Do đó bị cáo Th được áp dụng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s, p khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Bị cáo T được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo ít nghiêm trọng nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo cũng đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và và bị khấu trừ một phần thu nhập hàng tháng. Tuy nhiên qua xác minh tại địa phương, bị cáo Th là người bị khuyết tật nặng nên Hội đồng xét xử xét miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo, thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

Đối với bị cáo T không có công ăn việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử xét miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Do bị cáo không có việc làm nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải thực hiện lao động công ích phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng là 02 giờ trong một ngày và 02 ngày trong một tuần là phù hợp quy định tại khoản 4 điều 36 của bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên xét thấy các bị cáo Th và T không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.

Đối với Phùng Thị Thúy, Nguyễn Văn C, Nguyễn Mạnh T1, Đặng Minh Trường, Phạm Thị H và Đoàn Mạnh D là các đối tượng đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức mua số lô, số đề của Phùng Trọng T và Nguyễn Thị Th ngày 24/6/2019. Tuy nhiên, số tiền của từng người sử dụng vào mục đích đánh bạc chưa đến mức xử lý về hình sự, bản thân Thúy, Chung, Tưởng, Trường, Hệ và Dương là những người không có tiền án, tiền sự, nên Công an huyện TT đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Thúy, Chung, Tưởng, Trường, Hệ và Dương theo quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ.

Về vật chứng:

- Đối với số tiền 18.089.000đ.(Mười tám triệu không trăm tám mươi chín nghìn đồng) do các đối tượng giao nộp cho cơ quan điều tra. (Trong đó: Bị cáo Th 7.430.000đ, Nguyễn Văn C 3.200.000đ; Phùng Thị Thúy 4.060.000đ, Nguyễn Mạnh T1; 1.160.000đ, Phạm Thị H 199.000đ, Đặng Minh Trường 2.000.000đ và Đoàn Mạnh D 40.000đ), là số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc và do đánh bạc mà có. Do đó cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng, lắp sim số 0338.142.456 của bị cáo Th, không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho bị cáo Thịnh;

- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 5S màu trắng – bạc, đã qua sử dụng, số Imei 352001066752454, của bị cáo T sử dụng vào việc đánh bạc, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước;

- Đối với 01 sim số 0342.568.510 lắp bên trong điện thoại di động Iphone 5S màu trắng – bạc của bị cáo Tuấn, 01 bàn gấp học sinh; 02 cây bút bi (một cây mực xanh. một cây mực đỏ) là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Thủy đã trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Th 01 túi xách giả da màu đen đã qua sử dụng và số tiền 38.835.000đ (Ba mươi tám triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn đồng) là tài sản không liên quan đến tội phạm; Trả cho Phùng Thị Thúy 01 điện thoại Iphone 6, màu xám đã qua sử dụng, lắp sim số 0339106276; Xét thấy phù hợp, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;

Các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phùng Trọng T;

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, p khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Th.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Th và bị cáo Phùng Trọng T phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt: Bị cáo Phùng Trọng T 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã HX, huyện TT, tỉnh PT nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo T cho UBND xã HX, huyện TT, tỉnh PT giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Bị cáo Phùng Trọng T phải thực hiện lao động công ích phục vụ cộng đồng trong thời hạn cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng là 02 giờ trong một ngày và 02 ngày trong một tuần.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Th 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 03 ngày tạm giữ (từ ngày 24/6/2019 đến ngày 26/6/2019), quy đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã HX, huyện TT, tỉnh PT nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án. Giao bị cáo Th cho UBND xã HX, huyện TT, tỉnh PT giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 18.089.000đ (mười tám triệu không trăm tám mươi chín nghìn đồng) do bị cáo cùng các đối tượng sử dụng đánh bạc. (Trong đó: Bị cáo Th 7.430.000đồng, Nguyễn Văn C 3.200.000đồng; Phùng Thị Thúy 4.060.000đồng, Nguyễn Mạnh T1; 1.160.000đồng, Phạm Thị H 199.000đồng, Đặng Minh Trường 2.000.000đồng và Đoàn Mạnh D 40.000đồng).

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 5S màu trắng-bạc, đã qua sử dụng, số Imei 352001066752454 của bị cáo Phùng Trọng T;

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 thẻ sim số 0342.568.510 lắp bên trong điện thoại di động Iphone 5S màu trắng-bạc của bị cáo Tuấn; 01 bàn gấp học sinh mặt màu xanh, 02 cây bút bi (01 cây mực xanh, 01 cây mực đỏ) của bị cáo Th.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Th: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng, lắp sim số 0338.142.456;

Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy đang quản lý, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/10/2019.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phùng Trọng T và bị cáo Nguyễn Thị Th mỗi người phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh PT xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ