- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn T và đb - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lò Văn Th và Lò Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Xử phạt các; Điều 17 Bộ luật hình sự Xử phạt các; Điều 321 Bộ luật hình sự Xử phạt các
| TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2019/HS-ST Ngày: 28/11/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Cần; Bà Nguyễn Thị Hằng.
Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Kiến Thắng – Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 11 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2019/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 11 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. Lò Văn T, sinh năm 1993. Tại Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT: Bản C, xã T, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông: Lò Văn Đ, sinh năm 1968 và con bà Lường Thị L, sinh năm 1967; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 06/01/2019, ngày 12/01/2019 bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Thân Thuộc, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu và bỏ trốn đến ngày 05/11/2019 ra đầu thú và được áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Có mặt.
2. Lò Văn Th, tên gọi khác: Không, sinh năm 1992 tại huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT: Khu 2, thị trấn T, huyện Tân Uyên - Lai Châu; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 7/12. Con ông: Lò Văn N, sinh năm 1952 và con bà: Tòng Thị P, sinh năm 1960; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ: Lò Thị T, sinh năm 1994. Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 06/01/2019, ngày 12/01/2019 bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn T, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu và bỏ trốn đến ngày 06/11/2019 ra đầu thú và được áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Có mặt.
Những người làm chứng:
- Ngô Văn Q, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Phạm Văn T, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Lò Văn H, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đèo Văn C, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Tất cả những người làm chứng vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 06/01/2019, Ngô Văn Q sinh năm 1974, đang ở nhà tại bản T, xã Trung Đồng, huyện Tân Uyên mượn điện thoại của Lò Thị Đ sinh năm 1990, trú cùng bản (là người chung sống như vợ chồng với Q) để gọi cho Phạm Văn T sinh năm 1995, trú tại bản T, xã Trung Đồng, huyện Tân Uyên để rủ T lên nhà đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền, T đồng ý. Lúc này T đang chơi tại nhà Lò Văn Th, sinh năm 1993, trú tại bản C, xã T, huyện Tân Uyên nên T rủ Th cùng đi, Th đồng ý và điểu khiển xe chở T lên nhà Q để đánh bạc. Khi ra đến đầu ngõ, T, Thảnh gặp Lò Văn T sinh năm 1992, trú tại bản N, thị trấn Tân Uyên, huyện Tân Uyên và Lò Văn T, sinh năm 1996 đang điều khiển xe mô tô đến nên T rủ T, Th cùng đi đánh bạc, T, Th đồng ý. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T, T, T, Th đi đến nơi thì nhìn thấy có Q và Đ đang ở nhà xem ti vi. Trong khi ngồi nói chuyện, Q tiếp tục dùng điện thoại của Đ gọi cho Lò Văn H sinh năm 1984, trú cùng bản đến tham gia đánh bạc, H đồng ý. Sau đó, Q dùng kéo cắt vỏ bao thuốc lá Thăng Long 01 mặt màu vàng, 01 mặt màu trắng làm 04 quân vị, khi Q đang cắt quân vị thì có Đèo Văn C sinh năm 1993 trú cùng bản đến. Sau đó, Ngô Văn Q, Phạm Văn T, Lò Văn H, Đèo Văn C, Lò Văn Th, Lò Văn T, Lò Văn T đi vào phòng ngủ của Q để đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa. Tại đây, Q lấy ra 01 bộ bát đĩa bằng sứ đã chuẩn bị sẵn từ trước đặt vào giữa chiếu bạc rồi cho 04 quân vị vừa cắt cho vào đĩa và úp bát lên để chuẩn bị đánh bạc. Khi đánh bạc Ngô Văn Q bỏ ra khoảng 16.000.000 đồng, Phạm Văn T bỏ ra khoảng 500.000 đồng, Lò Văn H 100.000 đồng, Đèo Văn C 400.000 đồng, Lò Văn Th khoảng 4.200.000 đồng còn Lò Văn T do không có tiền nên ngồi xem còn Q, T, H, C, Th, T cùng nhau đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa. Luật chơi như sau: Khi người cầm cái xóc các quân vị được úp trong bát và đĩa rồi đặt xuống chiếu, ai thích đánh chẵn hay lẻ thì đặt tiền vào cửa chẵn hoặc cửa lẻ. Khi mọi người đã cá cược xong, người cầm cái mở bát, nếu bốn quân vị màu vàng hoặc trắng hay 02 quân vị màu vàng, 02 quân vị màu trắng là chẵn thì người nào đặt cửa chẵn sẽ được số tiền bằng số tiền đã đặt vào cửa chẵn và ngược lại nếu ba quân vị màu vàng 01 quân vị màu trắng hay 03 quân vị màu trắng, 01 quân vị màu vàng là lẻ thì những người đặt cửa lẻ sẽ được số tiền bằng số tiền đã đặt vào cửa lẻ, không quy định số tiền đặt cược hằng ván. Khi bắt đầu đánh bạc, Lò Văn T là người cầm cái, do không có tiền và hỏi vay Q không được nên T xóc được khoảng 02 đến 03 ván thì chuyển cho Lò Văn Th cầm cái và được Th đưa cho 300.000 đồng để tiếp tục chơi. Lúc này, Lò Văn H thua hết 100.000 đồng mang từ nhà đi nên hỏi vay tiền của Q nhưng Q không cho nên H thế chấp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SVN, màu sơn đen bạc, biển kiểm soát 25F3-2797 kèm theo đăng ký xe mô tô mang tên Lò Văn S cho Ngô Văn Q vay số tiền 2.000.000 đồng để tham gia đánh bạc, Q đồng ý. Khi Th đang cầm cái được khoảng 04 đến 05 ván thì Q yêu cầu mỗi người đưa 100.000 đồng tiền phế (tiền nước, thuốc lá và dọn dẹp vệ sinh khi kết thúc), T, H, C, Th, T đồng ý và mỗi người đưa cho Q số tiền 100.000 đồng. Sau khi thu phế được 500.000 đồng thì Q để số tiền này chung vào số tiền đang đánh bạc của mình và ra phòng khách (là nơi Q để hàng tạp hóa để bán) lấy 01 lốc nước (06 chai) nước ngọt nhãn hiệu Wake up 247 và 02 gói thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long vào cho mọi người sử dụng rồi tiếp tục đánh bạc. Quá trình đánh bạc Q dùng số tiền thu được của Tuân, H, C, Th, T để cá cược. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, Ngô Văn Q, Phạm Văn T, Lò Văn H, Đèo Văn C, Lò Văn Th, Lò Văn T đang tham gia đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền thì bị Công an huyện Tân Uyên phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ trên chiếu bạc gồm số tiền 26.200.000 đồng (trong đó thu giữ số tiền cá cược đặt ở giữa chiếu bạc là 11.350.000 đồng; Thu giữ trên chiếu bạc tại vị trí chỗ ngồi của Ngô Văn Q là 4.200.000 đồng, Lò Văn Th số tiền 4.000.000 đồng, Phạm Văn T số tiền 2.600.000 đồng, Đèo Văn C, Lò Văn H mỗi người 1.600.000 đồng, Lò Văn T số tiền 850.000 đồng); 01 bộ bát đĩa màu trắng bằng sứ, 04 quân vị được cắt bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long có một mặt màu trắng, 01 màu vàng; thu giữ của Ngô Văn Q 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SVN, màu sơn đen bạc, biển kiểm soát 25F3-2797 kèm theo đăng ký xe mô tô mang tên Lò Văn S.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Quá trình điều tra, đối chiếu với các quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự xét thấy các bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nhưng cũng cần có mức án nghiêm khắc với hành vi phạm tội của các bị cáo, trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo, nhưng các bị cáo không chấp hành, bỏ trốn nên làm khó khăn trong công tác điều tra, truy tố và xét xử nên cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ chấp hành pháp luật của các bị cáo.
Vật chứng của vụ án gồm: Số tiền trên chiếu bạc 26.200.000 đồng và 01 bộ bát đĩa bằng sứ màu trắng và 04 quân vị được cắt bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long có một mặt màu trắng, 01 màu vàng mà các bị cáo dùng vào việc đánh bạc.
Vật chứng thu giữ của Ngô Văn Q 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SVN, màu sơn đen bạc, biển kiểm soát 25F3-2797 kèm theo đăng ký xe mô tô mang tên Lò Văn S.
Hiện số vật chứng trên đã được xử lý tại một bản án khác nên không đề cập giải quyết.
Tại bản cáo trạng số 51/CT - VKS -TU, ngày 14/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên truy tố các bị cáo: Lò Văn Th và Lò Văn T về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát huyện Tân Uyên giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo: Lò Văn Th và Lò Văn T phạm tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự
Xử phạt các bị cáo: Lò Văn Th, Lò Văn T mỗi bị cáo từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Không đề cập giải quyết.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, các bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và không tranh luận gì. Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của các bị cáo; tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hồi 21 giờ 30 phút ngày 06/01/2019, tại nhà riêng của Ngô Văn Q trú tại bản T, xã Trung Đồng, huyện Tân Uyên, Ngô Văn Q, Phạm Văn T, Lò Văn H, Đèo Văn C, Lò Văn Th, Lò Văn T đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền thì bị bắt quả tang. Trong quá trình đánh bạc Ngô Văn Q còn thu phế của Phạm Văn T, Đèo Văn C, Lò Văn H, Lò Văn Th và Lò Văn T mỗi người 100.000 đồng.
Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền 26.200.000 đồng, 01 bộ bát đĩa bằng sứ màu trắng và 04 quân vị được cắt bằng vỏ bao thuốc lá Thăng Long có một mặt màu trắng, 01 màu vàng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Ngô Văn Q, Phạm Văn T, Lò Văn H, Đèo Văn C, Lò Văn Th, Lò Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương. Ngày 12/01/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Uyên đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo. Ngày 30/5/2019 Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu đã đưa ra xét xử các bị cáo Ngô Văn Q, Phạm Văn T, Lò Văn H, Đèo Văn C, còn các bị cáo Lò Văn Th, Lò Văn T đã không chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và đã bỏ trốn gây khó khăn trong công tác điều tra, tuy tố và xét xử nên cần phải có mức án phù hợp với mức độ hành vi chấp hành pháp luật của các bị cáo.
Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên cần áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự là cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo cũng đã đảm bảo cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và công tác giáo dục phòng ngừa chung.
Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị là hoàn toàn phù hợp.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Toàn bộ vật chứng của vụ án đã được xem xét tại bản bản án khác đã có hiệu lực pháp luật, nên không đề cập giải quyết.
Vai trò đồng phạm của các bị cáo Lò Văn Th, Lò Văn T là như nhau, do các bị cáo đều bị xúi dục lôi kéo, nên mức hình phạt đối với các bị cáo là như nhau.
Đối với Lò Văn T là người ngồi xem Q, T, C, H, Th, T đánh bạc. Quá trình điều tra xác định hành vi của Lò Văn T không đủ yếu tố cấu thành tội che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm quy định tại Điều 389, 390 của Bộ luật hình sự nên không đề cập xử lý.
Đối với Ngô Văn Q, Phạm Văn T, Lò Văn H, Đèo Văn C đã được xét xử bằng bản án số 13/2019/HSST ngày 30/5/2019 và đã có hiệu lực pháp luật nên không đề cập xử lý.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố các bị cáo Lò Văn Th và Lò Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn Th 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thời gian tạm giữ 6 (sáu) ngày từ ngày 06/01/2019 đến ngày 12/01/2019. Quy đổi ra thời gian cải tạo không giam giữ là 18 (mười tám) ngày. Thời hạn cải tạo không giam giữ còn lại 11 (mười một) tháng 12 (mười hai) ngày, được tính từ ngày UBND xã T, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu được giám sát giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn T 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thời gian tạm giữ 6 (sáu) ngày từ ngày 06/01/2019 đến ngày 12/01/2019. Quy đổi ra thời gian cải tạo không giam giữ là 18 (mười tám) ngày. Thời hạn cải tạo không giam giữ còn lại 11 (mười một) tháng 12 (mười hai) được tính từ ngày UBND thị trấn T, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu được giám sát giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
- Miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
- Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo từ ngày tuyên án đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày 28/11/2019 lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu để xét xử theo thủ tục phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; (01 bản); - VKS tỉnh; huyện; (02 bản); - Công an; (01 bản); - THA dân sự; THAHS; (03 bản); - Các bị cáo: 02 bản; - Sở tư pháp (01 bản); - Lưu hồ sơ – TA. 02 bản; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Vũ Văn Bình |